Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

La Mã sụp đổ

Suy tàn rồi sụp đổ - đó không phải là lời sấm truyền hay tiên tri, đó là lời khẳng định, một lời kết cho tất cả : hành tinh này, thời đại kia, chế độ nọ hay những số phận ấy. Có gì khác nhau giữa những thứ tôi vừa kể trên? Chẳng có gì cả. Đều ra đời như thế và ra đi như thế. Bạn tưởng rằng nó gây chấn động lắm, và dư âm của nó thì dài lắm? Nhưng cũng thế mà thôi. Và vỡ mộng, đúng vậy. Chúng ta luôn có những giấc mộng tan vỡ trong cuộc đời mình.

Con người luôn ôm ấp những giấc mộng về sự vĩnh cửu, về những mầm sống bám rễ tới tận âm ti và vươn cành lên đến thiên đàng. Nhưng tất cả những gì chúng ta xây dựng được, là một thế giới bằng cát, trên nền cát để chờ đợi một ngày sóng đến cuốn trôi. Câu chuyện này được dựa trên một bài giảng của Saint Augustin, về sự sụp đổ của một nền văn minh vĩ đại : La Mã. Và con người, hạt cát nhỏ trong bức tường thành đồ sộ nhưng rốt cuộc cũng bằng cát đó, rồi cũng sụp đổ và lụi tàn. La Mã là sự phóng chiếu của thế giới, của những nền văn minh, của những tinh cầu được hình thành rồi nổ tung ở đâu đó rất xa xôi trong vũ trụ. Nhưng La Mã cũng là sự phóng chiếu của những tâm hồn người bé nhỏ, mong manh sinh ra lớn lên rồi chờ đợi ngày cáo chung của số phận. Chỉ có những giấc mơ là bồng bềnh trôi theo thời gian, chỉ có những giấc mơ, như những đợt sóng xô cứ tràn lên bờ rồi tan đi, lớp này, lớp khác, mải miết...

Matthieu và Libero là những người trẻ tuổi ôm ấp giấc mơ nhào nặn nên một thế giới của riêng mình. Nhưng Paris quá rộng lớn và văn minh để kiểm soát. Họ quay về đảo Corse, hài lòng với một thế giới nhỏ hơn trong một quán bar. Họ hồ hởi xây dựng một địa đàng với những lạc thú êm dịu của trần gian. Họ cứ ngỡ rằng có một nơi như vậy cho họ, một nơi mà tất cả đều đặn diễn ra trong nhịp điệu êm ái mãi mãi, không biến động, không sóng gió. Không chỉ họ, mà tất cả những nhân vật trong cuốn sách này, là Aurelie, Claudie, Jacques và Marcel, đều đi tìm cho mình một chốn nương náu giữa cuộc đời, nơi họ tin mình thuộc về, bám rễ và trường tồn. Cuộc đời là những cuộc đi tìm mải miết, đầy hứng khởi thuở ban đầu và tuyệt vọng những lúc về sau, để rồi nhận ra rằng, mọi thứ cuối cùng sẽ sụp đổ.

Nhưng sự sụp đổ không phải lỗi của vùng đất ấy. Không có một nơi chốn nào được vĩnh cửu tồn tại một khi nó được khai phá. Nói cách khác, bằng việc gieo mầm sự sống cho bất cứ một điều gì, thì người ta cũng đã đồng thời gieo vào nó một chất độc. Paris hay đảo Corse không hủy hoại Matthieu và Liberto. Họ đã hủy hoại chính mình. Chất độc của hoan lạc, của sợ hãi, của si mê đã khởi sinh trong họ từ biết bao thế hệ trước, từ đời của Marcel truyền xuống cho Jacques và Matthieu. Những nỗi buồn và niềm vui, sự nuối tiếc vô vọng và chìm ngập trong nỗi ám ảnh về sự vĩnh cửu, nó là thứ chất độc gặm nhấm mòn tâm hồn, là những mạch nước ngầm tràn vào đục ruỗng chân những lâu đài trên cát, chỉ chờ một đợt sóng xô tới là đủ tan hoang. Và thực tế, nó đã tan hoang biết bao lần, một cách thản nhiên như chưa hề có gì khác. Sụp đổ, vốn là một phần của thế giới này, cuộc sống này. Và tan vỡ, luôn là số phận của những giấc mơ ấy.

Thế mà, bằng cách nào đó, thế giới vẫn hồi sinh. Từ tro tàn, từ cát lạnh, từ một thế giới đã chìm lấp đâu đó dưới lòng đất. Và những giấc mơ, cứ vỡ tan hoang cả trăm nghìn bận cũng cứ mãi còn, như sóng biển không biết khởi nguồn từ đâu đó ngoài kia, cứ mãi mãi dồn dập vào bờ, dẫu biết khi đến sẽ chẳng còn lại gì ngoài những loang nước lạnh. Cuộc sống cứ thế xây dựng trên nền của chết chóc, lụi tàn. Và con người, tuy hoang mang vô kể trước sự mong manh của sự sống, thì vẫn sống với lòng mong được sống, bởi giấc mơ ấy vẫn còn mãi để tưới tắm cho những hạt mầm chôn sâu dưới lớp tro tàn. Cuốn sách là một nỗi muộn sầu nhưng cũng có thể xem như là một lời an ủi.

Núi thần

Có gì trên ngọn núi ấy?

Thomas Mann đã nói trong cuốn sách này rằng : thời gian là một bí mật. Người ta cố gắng nhốt kín thời gian và đong đếm nó bằng tiếng tích tắc của các thể loại đồng hồ, nhưng người ta chưa bao giờ điều khiển được nó. Ngược lại, nó điều khiển ta và đo lường cuộc đời ta. Người ta chạy trốn thời gian bằng những cuộc xê dịch, mà cụ thể ở đây là một cuộc đào thoát đồng bằng lên núi cao, nơi người ta trả tự do cho thời gian để giải thoát cho chính mình khỏi nỗi ám ảnh của những cột mốc, của những đơn vị ngày tháng. Nhưng rồi, bằng một cách nào đó, thời gian vẫn lao đi và cuốn tất cả theo dòng chảy bất kham của nó để đối diện với một cột mốc duy nhất của đời người : cái chết.

Hans Castorp đã đối diện với cái chết khá sớm, khi những người thân lần lượt bỏ chàng ra đi. Đối với Hans, chết là một cuộc chia ly linh thiêng và trang trọng. Nhưng sau này, khi Hans lên sống ở Sơn trang, chàng mới hiểu rằng có vô vàn khuôn mặt của cái chết cũng như chừng ấy thái độ của sự biệt ly. Và vì thế dần dần chàng đánh mất đi sự tôn kính của mình dành cho sự kiện đặc biệt ấy, để trơ lì đối diện nó bằng một cái nhún vai. Rốt cuộc thì, dù người ta có muốn đối diện với nó vì quá chán ngán chốn hồng trần, hay muốn trốn chạy nó vì quá lưu luyến hồng trần, thì cái chết cũng sẽ đến dưới bàn tay quyết định của thời gian chứ không phải của chúng ta. Vô vọng, dường như là câu trả lời cho tất cả.

Và bởi vì con người không quyết định được cái chết của mình, nên họ bằng mọi cách sống một cuộc đời như mình mong muốn. Ngọn núi Davos, nơi đóng đô của An dưỡng đường Sơn trang, nơi thời gian tự do một cách toàn năng và bất kham, nơi bốn mùa bất chấp luật lệ thích ghé lúc nào thì ghé, nơi người ta miễn cưỡng đến ở để chiến đấu cho cuộc sống của mình. Ở đó, không có một bầu không khí tang thương ngự trị, hoặc nó vẫn ngự trị nhưng nó đã bị ngó lơ, hoặc khỏi cần ngó lơ mà người ta tự luyện cho nó thứ nội công thâm hậu có tên là vô cảm. Bằng mọi giá, họ đấu tranh cho lý tưởng, cho ước mơ, cho quan điểm sống và cho tình yêu. Cả Sơn trang là một hợp chủng quốc ngồi chờ đợi giây phút cáo chung, nhưng vẫn không thôi va chạm nhau bằng những cuộc cãi vã liên hồi kỳ trận.

Cuốn sách là những cuộc hành trình, không chỉ riêng cua Hans Castorp. Những nhân vật khác trong này cũng hết sức đặc sắc, từ Settembrini đến người đồng minh thù địch Naphta, từ Joachim đến cô nàng người Nga Clawdia Chauchat, họ đều trưởng thành trên hành trình đi đến cái chết, bằng những nụ cười trên môi như sự lựa chọn sau cùng cách thức đối diện với số phận của mình. Với Settembrini là nụ cười ý vị thâm trầm, với Hans là nụ cười hồn nhiên nông nổi, với Clawdia là nụ cười kiêu kỳ, họ đều cười với cuộc đời tiếng cười của chính mình, một cách để chạm khắc vào thời gian vô định những dấu ấn, trước lúc nó kịp xoá sổ tất cả...

Núi thần, đúng như tên gọi của nó, là một ngọn núi đồ sộ và vĩ đại. Tuy nhiên nó không đòi hỏi ở người khác một phẩm chất cao siêu để vượt qua. Nó, cũng như một vài cuốn sách được liệt vào hàng kinh điển khác, chỉ chờ đợi ở bạn một sự kiên trì, một nỗ lực bền bỉ để đi hết hành trình. Bù lại, nó sẽ dành tặng bạn thứ văn chương hảo hạng, một bản hoà âm đẹp đẽ của triết lý, chất thơ và tình yêu, nó tặng bạn những đoạn văn tả cảnh đẹp rụng rời đến mức bạn chỉ ước ao gì mình được ở đó - là con bệnh cũng được, nó tặng bạn những cuộc tranh luận đầy tính triết học nhưng rất dí dỏm hài hước, tặng bạn bức tranh sinh động về cả thế gian. Cuối cùng, nó tặng bạn những nụ cười, như một cách tiêu xài cuộc đời mà không hề hối tiếc ...

Chuyện dài bất tận

Khen cuốn sách này thì có vẻ quá thừa. Trần đời này thật khó tìm được một câu chuyện ngụ ngôn nào ly kỳ sáng tạo một cách bất tận và đẹp đến như thế. Đẹp trong sự lộng lẫy lẫn sự đơn sơ, đẹp từ hạt cát tới cả thế giới thần tiên. Chất fantasy tràn ngập nhưng chưa bao giờ bỏ quên hiện thực, và như một lẽ tất nhiên, cuộc sống thực tại luôn mãi là chất liệu nuôi dưỡng cho trí tưởng tượng thăng hoa...

Cuốn sách chứa đầy triết lý, nhưng nó luôn khiến người ta thảnh thơi. Nó không áp đặt, nó luôn dành cho người ta sự lựa chọn. Như Bastian, cậu có toàn quyền với trí tưởng tượng của mình, ngay khi cậu bắt đầu khởi động nó. Trí tưởng tượng sẽ đưa cậu đi đến đâu, tuỳ cậu quyết định. Nhưng sau mỗi quyết định là một kết quả tương xứng, một cái giá phù hợp. Cậu là người sáng tạo mà xây dựng nên thế giới ấy, thế giới Tưởng Tượng thần kỳ bất tận, nhưng cậu phải vững vàng trong sự bất tận và thay đổi không ngừng ấy, bởi nếu không, nó sẽ cuốn cậu đi, nhấn chìm cậu trong sự vô biên và không đáy của nó. Mọi sự luôn luôn có những quy ước và giới hạn.

Một nửa đầu, cuốn sách làm tôi hơi buồn. Nó làm tôi nhớ lâu lắm rồi mình không còn nghĩ ra được điều gì mới mẻ. Thế giới tưởng tượng của tôi đã rơi ở đâu đó rất xa xôi, ở tuổi thiếu niên hay là trước đó nữa cũng nên. Có phải vì thế mà cuộc sống hiện tại thiếu đi rất nhiều màu sắc, rất nhiều niềm vui và niềm hy vọng. Có phải vì thế mà mọi thứ lúc nào cũng có cái vẻ rất vô vị, lạnh lùng, xa cách. Bao lâu rồi tôi không có một niềm vui thật sự tưng bừng?

Một nửa cuốn sách còn lại cảnh báo tôi về cái giá phải trả của việc chìm đắm trong những giấc mơ cua trí tưởng tượng. Nó bảo rằng hãy cẩn thận với những giấc mơ. Khi bay quá xa, quá cao, mọi trí tưởng tượng đều trở thành ảo tưởng và hoang tưởng. Nó ăn mòn, làm rỉ sét cuộc đời thật, trái tim thật, ký ức thật, những hạnh phúc từng rất thật. Nó bảo tôi hãy yêu cuộc sống này, đừng ảo vọng, đừng phù phiếm. Hãy để giấc mơ làm đúng nhiệm vụ của nó, là một phương tiện, một niềm vui, một sự khích lệ. Đừng bao giờ trở thành nô lệ cua trí tưởng tượng.

Trang sách cuối cùng, tôi mừng vì Bastian đã trở về nhà. Cậu vẫn là cậu như xưa nhưng với tôi, đó là một chiến thắng huy hoàng rồi. Trên thực tế, tôi biết không phải ai cũng có thể trở về khi đã bước chân vào thế giới tưởng tượng với quá nhiều cám dỗ. Cậu trở về vì cơ bản cậu vẫn còn yêu. Tình yêu có lẽ là điều duy nhất người ta không mất, dù ký ức có mất đi, là thứ duy nhất neo người ta lại với cuộc sống. Bastian trở về, ra khỏi thế giới Tưởng Tượng, nhưng cậu biết sẽ không mất nó, bởi cậu có thể tạo ra nó mỗi ngày. Bởi cuộc sống này, chính là cội nguồn của tất cả, là mảnh đất màu mỡ cho mọi trí tưởng tượng và sự sáng tạo đơm hoa kết trái.

Thật là quá đẹp, cuốn sách ấy, thế giới ấy, cuộc sống này <3

Ngồi

Nếu bạn tìm tới với văn chương như một sự giải trí, thì bạn hãy bỏ qua cuốn sách này. Ngồi- không như cái tên đầy tĩnh lặng của nó- là một cuốn tiểu thuyết với rất nhiều xáo trộn rối ren và bế tắc, trong bầu không khí hư ảo nửa mơ nửa thực lẫn lộn, và tựu chung nó sẽ mang đếm một cảm giác tù mù, cảm giác chính mình bị ngưng đọng và hóa đá trong dòng chảy của thời gian. Với tất cả những đặc điểm đó, Ngồi không dành cho những ai muốn được nghe kể chuyện, hoặc đi tìm một lối thoát hay cứu rỗi nào đó trong văn chương. Với Ngồi, có lẽ Nguyễn Bình Phương muốn giãi bày một sự thật tồn tại rất kiên định trong đời sống, là sự sa đọa, và sa đọa trong một nỗi buồn lững thững gặm nhấm tâm hồn, trong sự giằng xé giữa bản năng và lý tưởng để rồi mỗi ngày nhận ra mình đang xóa sổ chính mình trong thế giới hỗn loạn kia, nhanh tới mức không còn kịp để lại giấu vết.

Tất cả những nhân vật trong câu chuyện này, là Khẩn, Minh, Nghĩa, Hùng, Nhung, Thúy, Quân, Liên… đều tồn tại bằng cái vẻ chung chung của cần cù, nhẫn nại và rồi quằn quại trong mỗi cõi lòng riêng biệt bằng bản năng thèm khát được sống và hưởng thụ cuộc đời mà lý tưởng của họ chối bỏ. Họ sống hiền lành cam chịu, ý thức cao nhưng lòng họ không yên bởi những cơn khao khát cuồng dại bị kìm nén, là nhu cầu sinh lý, là nhu cầu tình yêu, là cảm giác được tồn tại trong lòng một ai đó. Khẩn chênh vênh giữa cuộc đời anh chọn và cuộc đời anh mơ, giữa việc phải sống như một Đảng viên gương mẫu và sống phóng túng giữa tình yêu. Khẩn sa đọa trong cơn mê cuồng dục vọng bị đóng khung trong bộ áo thạch cao đông cứng của chủ nghĩa xã hội. Khẩn, vừa không chối bỏ được bản thân, vừa không dám quay lưng với cả một thể chế. Khẩn cứ thế đi lang thang trong tâm tưởng của mình, thả cho hồn vía của mình neo đậu trên những bến bờ hư ảo, những cơn mộng mị mê cuồng và bấu víu vào những sợi dây tâm linh chảy suốt mạch máu mình. Sa đọa cũng là một sự lựa chọn để xác định sự tồn tại của chính mình, sa đọa để nhận ra mình vẫn còn cảm giác người, vẫn còn ham muốn, còn đau đớn và yêu thương. Sa đọa trong cơn bế tắc, trong linh tính về sự cáo chung của chế độ. Với một tấm áo giáp quá dày, thì việc hủy diệt từ bên trong là điều không thể tránh khỏi.

Bầu không khí tâm linh ngập tràn trong cuốn sách. Nó lẩn khuất, mơ hồ nhưng phủ cái bóng nguy hiểm của nó lên tất cả các số phận. Không ai lý giải được cho những hiện tượng bí hiểm và họ cũng mặc lòng chấp nhận nó như một phần của cuộc sống, mặc lòng để nó ám ảnh và xoa dịu mình, mặc lòng vin vào nó để tha thứ cho sự sa đọa của bản thân. Bầu không khí âm u nửa mơ nửa thực này tôi từng thấy ở trong những trang sách của Franz Kafka, cộng với chất tâm linh thuần Việt trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Những yếu tố ấy làm cho Ngồi có cái gì đó gần gũi chân thực nhưng mơ hồ bảng lảng như trong những giấc mơ. Nguyễn Bình Phương lại có cái lối viết tưởng chừng như phóng túng nhưng hóa ra lại rất cẩn trọng. Những trang viết dài, những đoạn đối thoại viết liên tục như kể, mà cũng không phải kể, là tả. Nguyễn Bình Phương cứ tả cuộc sống này với giọng bình bình đều đều không có một dấu chấm than. Cứ như mọi đau khổ, bất bình, nông cạn, ham muốn, say sưa trên cuộc đời này đều là chuyện thường tình, chẳng còn gì khiến người ta thảng thốt nữa. Nó không khiến ai bất ngờ như nó đã ở đó mấy chục năm nay, trong trí não hoang tàng của mỗi người, trong trái tim chai cứng vì cuộc đời. Nó đã hóa đá tất cả, những niềm yêu, hạnh phúc, đắng cay. Tất cả chỉ còn là những khối chai cứng, khô lạnh đợi đến ngày vỡ vụn.

Để nói về Ngồi, thật ra là quá nhiều. Chữ nghĩa của Nguyễn Bình Phương dường như có nhiều bột dậy, cứ đọc một chữ lại nở ra thành nhiều chữ khác. Bút pháp miên man, lạ lẫm, ngắt quãng vừa có chủ ý mà vừa như lơ đãng vô tình. Những cơn mơ xen vào đời thực tưởng như rời rạc nhưng lại rất chặt chẽ, đại từ nhân xưng lẫn lộn một cách có ý đồ. Thật ra cuốn tiếu thuyết chừng này trang mà viết tới 4 năm ròng thì Nguyễn Bình Phương đã quá lao tâm khổ tứ, đó là cả một thành quả mà đọc một cách hời hợt thì không thể nhận ra. Đó cũng có thể là lý do mà các độc giả trẻ tuổi dường như không hiểu được, họ thiếu nhẫn nại để hiểu một tác phẩm mà họ nghĩ là “chẳng có gì để đọc”, cũng có thể là họ thiếu trải nghiệm, những trải nghiệm mà chỉ có người nào đi qua chiến tranh mới hiểu, mới nhận ra cái bóng của nó sau mỗi con chữ. Dẫu sao, như Nguyễn Bình Phương đã nói, anh không cần những lời khen tặng, với anh, chỉ có lời nhận xét của một vài người là có ý nghĩa. Tôi tin điều này. Bởi tôi nghĩ đây không phải là một cuốn sách thuộc về đám đông, nó là cuốn sách dành cho người có lòng muốn hiểu. Như thế, đối với một cuốn sách, đã là đủ lắm rồi.

Điều gì xảy ra ai biết

Nếu nói đây là một cuốn sách hay, tôi nghĩ mình hơi nói quá. Không thể khen nhiều, nhưng kỳ lạ là cũng không thể bỏ đi. Nó có một cái gì đó, vừa thờ ơ, vừa níu kéo đúng như cái tựa của cuốn sách : Điều gì xảy ra, ai biết...

Rất phi hiện thực, kiểu như lâu lâu có một bóng ma chập chờn ở đâu đó trong câu chuyện, hoặc một con robot-thực-sự biết yêu. Hoặc một dung nhan, hoặc một tâm hồn bị hủy hoại. Thế nhưng bạn sẽ không cảm thấy có gì đáng sợ, chẳng tối tăm, chẳng trầm trọng. Tác giả của nó cũng chẳng bi lụy xót thương hay tỏ ra nguy hiểm, anh ta ( mà đọc xong tôi vẫn cứ tưởng là cô ta) viết nhẩn nha, kể bình thản, giống như kể về mấy người không thân không quen mà ngày nào cũng đụng mặt nhau ở thang máy,  hành lang, ngõ phố. Họ đi vào trong cuốn sách bằng cái vẻ bình thường, không hề biết là có người đang dòm ngó mình rồi đi kể lại. Họ cứ sống đời họ, đi qua khó khăn, đau buồn, cay đắng và hạnh phúc cứ như đi từ nhà đến chỗ làm, ngày qua ngày, như vậy...

Điều gì đã xảy ra? Tôi cũng không biết. Tôi thấy chuyện anh ta kể thật khó tin, nhưng rồi tôi lại thấy thân thuộc. Tới mức việc một con robot yêu nồng nàng hoặc một linh hồn nào đó đang chấp chới bay trên đầu cung bình thường như việc tôi có mặt trên cõi đời này vậy. Rốt cuộc thì tôi nghĩ, tối tăm, bẩn thỉu xấu xa hèn mọn, hay là đẹp đã cao sang tuyệt vời đều là những bí mật của cuộc sống. Bí mật dệt nên tấm vải mà ta sẽ khoác lên minh mặt phải hay trái, ngay chính ta cũng không biết được.

Bỗng dưng tôi cảm thấy rất ngưỡng mộ sự dũng cảm của những nhân vật trong cuốn sách này :)

Nhạn

Văn học Nhật đầu thế kỷ 20 với văn phong cổ điển trầm buồn, nhưng tinh thần tự do và ly khai định kiến đã rộng mở với những trang viết trải dài tâm trạng, những nỗi niềm u uẩn không cần che giấu và không bị phán xét nữa. Cùng với Natsume Soseki, Mori Ogai là một nhà văn lớn tiêu biểu cho nền văn học thời kỳ hậu Minh Trị, thời mà văn minh phương Tây đã tràn vào nước Nhật, thời mở cửa cho cả tư tưởng lẫn tâm hồn, thời mà tự do bắt đầu được thừa nhận đúng với giá trị của nó. 

Nhạn ( Gan - Ngỗng trời) là một tiểu thuyết của Mori Ogai trong thời kỳ ấy. Với phong cách kể chuyện thủng thẳng chậm rãi và dàn trải, nhưng thứ tự kể chuyện khá đặc biệt với những đoạn xen kẽ giữa những hình ảnh nhìn thấy và những hình ảnh nghe kể, để tái hiện lại một câu chuyện đa chiều với nhiều sự tương tác. Cốt truyện rất đơn giản, xoay quanh một mối tình tay ba một cô gái và hai người đàn ông. Mối tình không kịch tính, không cao trào, dường như nó không có gì cả ngoài sự câm lặng, và có vẻ sự câm lặng ấy mới chính là nhân vật trung tâm. Mori Ogai không viết nhiều về nỗi buồn hay nổi cô đơn, ông chỉ kể lại những gì ông nghe thấy và ông nhìn thấy, những cuộc gặp gỡ, những đoạn đối thoại ngắn. Nhưng rồi từ đấy, nỗi buồn của những người phụ nữ bắt đầu hiện lên. Là Otama với số phận làm lẽ một người đàn ông nàng không yêu, vò võ trong căn nhà buồn tênh bên con dốc Vô Duyên của định mệnh. Là Otsune, người vợ chính, người có danh phận nhưng không có được tình yêu, muốn rời bỏ người chồng phụ bạc nhưng rồi nhận ra mình chẳng còn nơi nào khác để nương náu. Những người phụ nữ ấy, họ cần che chở, cần tựa nương nhưng vẫn cần cả tự do, một cánh cửa nào cho trái tim lẻ lỏi của họ?

Không có một lời nào để xác nhận tình yêu ở đây. Tình yêu chỉ hiện lên qua một đôi lần má đỏ hoặc ánh mắt thiết tha, qua cái nhìn câm lặng hoá đá. Tình yêu giống như một thứ tự do đã bị cầm tù, trong chiếc lồng vàng lộng lẫy của đời sống êm đềm và tương lai hứa hẹn. Suezo giữ chiếc chìa khoá cuộc đời Otama nhưng vô tâm và hời hợt không nắm trái tim cô, Okada có trái tim cô nhưng biết rằng anh đã muộn nên chút lưu luyến vấn vương không đủ giữ Okada ở lại với tình yêu.Tình yêu đã vụt qua con dốc Vô Duyên ấy, như một định mệnh không sao nắm giữ được. Tình yêu giống như hòn sỏi rơi khỏi tay Okada chiều ấy làm gục ngã con ngỗng trời bên hồ, một tự do đã chết. 

Điều tôi thích nhất ở các nhà văn Nhật, là họ không kể câu chuyện về cả thế gian hay toàn bộ cuộc hành trình. Họ chỉ cắt một lát nhỏ của cuộc sống, kể một câu chuyện vô danh nép mình hay ẩn náu ở đâu đó trong lòng thế giới. Vậy mà chúng ta có thể thấy tất cả, cái ngọn lửa bên triền dốc Vô Duyên kia hoá ra là ánh lửa đang thắp sáng thế gian, mỗi ngày soi bước cho chúng ta thấy được chính bản thân mình. Mỗi ngày, ngọn lửa tình yêu ấy vẫn cháy lên, nhắc nhớ về những tự do đã mất và làm trỗi dậy những khao khát chất chứa trong tim. Câu chuyện đã cũ nhưng xã hội muôn đời vẫn vẹn nguyên những tấn tuồng của nó.

Lịch sử tình yêu

Để đọc cuốn sách này, điều đầu tiên bạn cần có là lòng kiên nhẫn, và tốt nhất không nên hiểu lầm rằng đây là một cuốn tiểu thuyết diễm tình yêu đương lai láng. Thật ra thì nó có hết đấy - tình yêu có rất nhiều, nhưng bạn chỉ có thể cảm được nó sau khi đã vượt qua được rất nhiều khung cảnh ảm đạm, rất nhiều nỗi buồn nặng nề và rất nhiều nỗi cô đơn. Nó không phải là một cuốn sách khơi dậy yêu đương phừng phừng như ngọn lửa, mà nó chỉ cho bạn một thứ rung động âm ỉ trong tim, một thứ tiền đề cho mọi thể loại tình yêu trên thế giới : sự đồng cảm.

Lịch sử tình yêu được viết với một kết cấu khá hỗn loạn, và nếu 20 trang đầu tiên bạn không bật khóc hoặc ngủ gục vì những số phận quá buồn tẻ và quạnh quẽ, thì trong hơn 100 trang tiếp theo, sự kiên cường của bạn vẫn chưa được tưởng thưởng đâu, bởi tới chừng đó rồi mà bạn vẫn chưa tìm được cách kết nối sợi dây của các số phận. Những nhân vật dường như không biết gì về nhau, ở cách xa nhau và tới từ những vùng khác nhau trên thế giới. Tất cả những gì mà ta có thể vin vào là một cuốn sách cũ mèm có tên là Lịch sử tình yêu, cuốn sách lưu lạc qua nhiều thăng trầm và biến cố để kết nối những con người xa lạ, để sau này gặp gỡ nhau trong một mối đồng cảm không ngờ.

Như đã báo trước, đây không phải là một thỏi chocolate ngọt ngào của tình yêu. Nó kể cho ta về tình yêu trong một vài trang, phần lớn những trang còn lại là những vết thương của tình yêu cùng hàng tá bi kịch. Leopold Gursky, thợ sửa khoá suốt 50 năm, chẳng còn gì ngoài một thân hình rệu rã và một trái tim đã tan nát chừng ấy năm về trước. Một cuộc sống ảm đạm đơn côi, một cuộc sống vô hình tới mức ông ấy sợ phải chết đi trong thinh lặng không ai đoái hoài. Bi kịch tiếp theo là Charlotte Singer, vợ một người thám hiểm. Họ đã hạnh phúc bên nhau cho đến ngày ông ấy chết đi, để cô sống tiếp cuộc đời với một ngọn lửa đã lụi tàn trong tim, rơi vào một trạng thái gần như thờ ơ với cuộc đời. Sống để đợi chờ một ngày sẽ chết.

Nhưng ông ấy, cô ấy vẫn sống, không ai chọn cái chết ngay khi tan nát con tim. Họ vẫn cứ sống tiếp và đương đầu với những nỗi đau khổ. Dường như đau khổ cũng làm được cái việc mà nó nên làm, là nhắc ta nhớ về những ngày tháng hạnh phúc đã mất đi. Như Leopold, ở tuổi tám mươi vẫn đi tìm câu trả lời cho nụ cười của Alma hơn sáu mươi năm về trước. Cả cuộc đời ông, nhớ nhung hoài hình bóng một người con gái đã từ rất lâu không thuộc về mình. Nỗi nhớ đem những hạnh phúc đã xa đến với hiện tại, và trong một vài giây phút ngắn ngủi nhớ nhung, có thể ta sẽ nhận ra rằng, còn nhớ nhung là vẫn còn lưu luyến cuộc sống.

Cuối cùng, khi đọc hết cuốn sách này, tôi nhận ra là mình không quan tâm lắm đến hành trình tìm nhau của hai nhân vật chính. Tôi thích và cảm động với những mối quan hệ ở cự ly gần hơn. Tình cha con lặng lẽ giữa Leopold và Issac, tình mẹ con giữa Charlotte và Alma, tình bạn già giữa Leo và Bruno, tình chị em, chồng vợ... Tất cả những nhân vật trong cuốn sách này đều đối đãi với nhau bằng tình yêu, chỉ có cuộc đời là gian ác, đâm hết người này đến người kia những nhát dao. Nhưng rồi ở cuộc gặp gỡ cuối cùng, tôi nghĩ là bất chấp cuộc đời có ra làm sao, thì chỉ mỗi việc ta biết yêu thôi cũng cứ khiến ta hạnh phúc, theo cách mà chúng ta lựa chọn. 

"
Ngày xưa có một cậu bé yêu một cô bé, tiếng cười của cô là câu hỏi mà cậu muốn dành cả cuộc đời để tìm câu trả lời.

Sau này – khi những chuyện họ không tưởng tượng nổi xảy ra – cô viết cho cậu một lá thư có đoạn: ”Khi nào anh mới hiểu rằng không có ngôn từ cho tất cả?”
"

Thị trấn Tortilla Flat

Tôi có nhiều thiện cảm với miền Tây Hoa Kỳ. Con người ở đó có những cá tính mà tôi thích, à mà không, nói thật luôn, là tôi ngưỡng mộ. Điên rồ, hài hước, bất cần, phóng túng và hết sức yêu đời. Cả một tuổi thơ dài ngồi ngắm miền Tây dưới móng ngựa Jolly Jumper, con ngựa láu cá của trùm cao bồi Lucky Luke, hàng loạt nhân vật hiện ra rất sống động, quái dị và điển hình. Từ cao bồi, ăn cướp, chủ quán rượu, gái làng chơi, lão nhà đòn cho đến da đỏ, ba Tàu và đặc biệt, một tay người Mễ Tây Cơ chuyên ngủ ngồi suốt các bức tranh. Tuy xuất hiện như một phông nền trong câu chuyện, nhưng nhân vật vô danh này chưa bao giờ vắng mặt trong bất kỳ truyện ngắn nào, dù bao giờ cũng ngủ, hoặc thức dậy để thì thào một bí mật nào đó, tiền đề cho các cuộc đấu súng hoặc rượt đuổi vô tiền khoáng hậu. Hoạ sĩ Morris đã nghiên cứu kỹ lưỡng bức tranh viễn Tây thời kỳ ấy, và những người gốc Mễ môi dày da nâu mập lùn uể oải trong cái nắng sa mạc gần như là hình ảnh tiêu biểu, một phần không thể thiếu của miền Tây Hoa Kỳ. Giờ đây tôi gặp lại họ, những paisano trong thị trấn Tortilla Flat của John Steinbeck, không làm phông nền, dù cũng ngủ suốt, nhưng đã trở thành những nhân vật chính.

Paisano giờ đây không thuần chủng Mễ như thời Lucky Luke lang thang. Họ lai nhiều dòng máu, tuy da vẫn nâu và vẫn sống bên rìa nên văn minh đang lao tới như một cơn lốc. Thế nhưng với John Steinbeck, họ thật sự là những người thú vị và đáng yêu và ông không định giễu cợt hay châm biếm họ - dù trong câu chuyện này thì những Paisano hiện lên theo kiểu các nhân vật trong một bức biếm họa. Steinbeck thậm chí đã sử dụng truyền thuyết về vua Arthur và hội bàn tròn để làm nền cho câu chuyện ( tiện đây, cũng xin phản đối luôn cái hình ảnh Chí Phèo và làng Vũ Đại được đem ra so sánh ở text bìa và lời giới thiệu, mà tôi thấy chả liên quan gì), một câu chuyện trông có vẻ rất thiếu nghiêm túc nhưng thực ra lại rất chân thành.

Khoảng một nửa cuốn sách, tôi phát bệnh vì Danny và các bạn của chàng. Cứ như họ mới trở về từ sao hỏa nhưng hoàn toàn bất chấp luật lệ trái đất. Cả lũ sống như người thượng cổ : đói thì ăn, mệt thì ngủ và sợ nhất là có tài sản trong tay, vì một quan niệm rất kiên cố, tài sản đi kèm với trách nhiệm. Bởi thế mà Danny, có hai căn nhà làm của nả, đã cập rập đem ngay một căn cho lũ bạn mình thuê, để trút gánh nặng này sang cho họ. Một thương vụ mà người thuê không trả tiền, người cho thuê cũng chẳng buồn đòi tiền, họ cứ thế nạp thêm người vào căn nhà ấy để có người gánh giùm trách nhiệm. Khi trách nhiệm quá lớn, căn nhà bốc cháy, cả bọn thở phào và dọn sang ở ngay căn còn lại. Từ đó, họ sống hạnh phúc bên nhau theo mốt cách thức rất tuỳ tiện và tuỳ cơ ứng biến, kiểu gì cũng được. 

Thoạt đầu, tôi không chịu đựng nổi lối sống buông tuồng, kiểu ngụy biện láu cá cho mục đích của bản thân- vài ga lông rượu. Nhưng rồi tôi ngạc nhiên thấy họ sống tốt chán, và vui vẻ bên nhau, dù đứa này lợi dụng đứa kia một ít, nhưng nói chung là hài lòng và mãn nguyện. Rồi từ từ tôi thấy họ tốt, một kiểu tốt hồn nhiên, không sâu xa, không suy tính - cứ như lương tâm cấu véo họ chỗ nào thì họ xử chỗ đó. Và rồi tôi thấy họ đẹp, lương thiện và ấm áp chan thành. Giống như hành trình đi vào một thế giới toàn những người ta tưởng họ điên nhưng ở lâu hơn thì nhận ra họ rất tỉnh táo, Tortilla Flat là một nơi như thế. Hoàn toàn tỉnh táo và đáng yêu, Danny và các bạn của chàng. Chỉ có điều ta chưa nhận ra vì ta còn sống chung với quá nhiều luật lệ và định kiến. Còn họ, họ sống ở ngoài, mà thực ra họ cũng không quan tâm là ở ngoài hay ở trong vì với họ nó không tồn tại. Ta thấy họ đã được giải thoát, còn họ thì họ nghĩ đã bị trói bao giờ đâu :)

Những chàng Paisano, dễ thương hơn tôi tưởng. Còn cuốn sách, thì hay ho hơn tôi tưởng. Tất nhiên rồi, John Steinbeck là ai chứ? Nobel văn chương. Nhưng nói thật tôi mới đọc một cuốn này của ông ấy thôi, còn Nobel thì đâu phải cuốn nào đọc cũng nổi he he. Nghe bảo rằng Đại suy thoái sách của ông rất thất bại, bán được hơn ngàn rưỡi cuốn thôi. Con số ấy mà áp vào thời hoàng kim của chúng ta hiện nay, thì gọi là một thành công rực rỡ đấy các bạn. Ước gì mà tôi có tinh thần lạc quan bất diệt của các Paisano :))

Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai

Cái đẹp thực sự chỉ nằm trong một vài khoảnh khắc ngắn ngủi của cuộc sống. Khoảnh khắc chỉ người nghệ sĩ mới nhận thấy, nắm bắt lại sau khi đã nhẫn nại chuẩn bị rất lâu. Cũng vậy đối với tình yêu, tình yêu cũng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian, khi cảm xúc của trái tim bị dồn nén vỡ oà, để rồi sau đó, người ta hầu như chỉ sống với những dư âm của tình yêu ấy, còn nó thì thực sự đã ra đi. Nhưng cho dù nó đã ra đi, việc nó từng có mặt trên cuộc đời luôn là điều khiến người ta trân quý và nâng niu, vì khoảnh khắc ấy, hạnh phúc và cảm xúc ấy tuy ngắn ngủi thôi nhưng cũng đủ làm lẽ sống và niềm an ủi cho suốt cả cuộc đời. 

Bạn thấy gì trên bức tranh ở trang bìa cuốn sách? Tôi thấy rất nhiều điều. Ở cái khoảnh khắc cô quay lại và nhìn qua vai, tôi thấy tình yêu của cô dành cho người họa sĩ, anh mắt tha thiết, sự ngưỡng mộ cô dành cho ông và nỗi buồn của cô dành cho chính mình. Ánh sáng trong mắt cô mạnh mẽ, như tranh đấu với thứ ánh sáng khác lấp lánh trên viên ngọc trai cô đeo, nó tương phản và bảo rằng nó không thuộc về cô. Nhưng cô đeo nó, chịu đựng đau đớn để đeo chiếc hoa tai quý giá, như một nỗi khao khát rằng một lần trong cuộc đời cô, có thể sống và tạo ra cái đẹp. Cô gái ấy đã dũng cảm bước vào bức tranh của người họa sĩ mà cô yêu, bằng tình yêu cô dành cho ông, và hơn thế, là tình yêu cô dành cho nghệ thuật. 

Tôi sẽ không kể bạn nghe câu chuyện này. Bạn có thể đọc nó, nhưng trước khi đọc, bạn hãy ngắm bức tranh này và tưởng tượng ra câu chuyện của chính bạn. Nghệ thuật đích thực luôn biết kể chuyện. Tracy Chevalier cũng làm thế, và câu chuyện của bà thực sự đã lay động người ta bằng thứ tình cảm thuần khiết nhưng mạnh mẽ kiên cường, thứ tình cảm người ta gọi là ngọc bởi sự trong trẻo và lấp lánh của nó. Một tình yêu chưa bao giờ được thừa nhận, nhưng nó có tồn tại trong những giây phút đồng điệu của tâm hồn, và nó lửng lơ trong bầu không khí xô bồ của cuộc sống để chờ đợi một thời khắc ngưng tụ thành một tác phẩm để đời. Bằng nghệ thuật, họ làm cho khoảnh khắc tình yêu trở nên vĩnh cửu, và họ cũng vì nghệ thuật đánh đổi rất nhiều thứ của đời mình. Họ không hối hận, vì nghệ thuật xứng đáng được như vậy.

Tracy Chevalier nắm được tinh thần của bức tranh bằng lối kể chuyện chậm rãi, như một mạch nước ngầm âm  ỉ chảy trong những ngõ ngách sâu thẳm của trái tim. Khi hai mạch ngầm gặp nhau, nó lặng lẽ nhập lại để chờ đợi một lần tuôn trào khỏi lòng đất và rồi lìa xa nhau mãi mãi. Griet đã khóc khi đeo đôi hoa tay ngọc trai, không phải vì nó khiến cô đau đớn, mà tôi tin rằng cô đã khóc cho cái dự cảm chia lìa của mình, dự cảm mà cô đã bắt đầu nhận ra vào cái lúc ông nhìn thấy mái tóc cô xoã. Lần cuối cùng, cô biết, là lần duy nhất cô phơi trái tim mình trên mặt vải toan, trong mắt ông và trong sự giận dữ điên cuồng của vợ ông. Đó là khi cô biết mình phải trở về với những gì số phận sắp đặt.

Đôi hoa tai không phải của cô, nhưng cuối đời mình ông đã để dành nó cho cô, vì với ông, cô xứng đáng với sự lấp lánh của nó. Ông có yêu cô không? Tôi tin là có dù ông có ngắm cô như ngắm một tác phẩm nghệ thuật của mình, thì cảm xúc của ông, rung động của ông là có thật. Cô nhận đôi hoa tai, nhưng cô không giữ nó, cô đổi nó lấy tiền, 20 guilder. Cô đưa 15 đồng cho chồng như một món nợ ân tình trả cho cuộc đời mình. 5 đồng còn lại, cô cất đi, không bao giờ đụng đến. Nó là giấc mơ của cô, kỷ niệm và tình yêu cô đã từng có trong đời, vĩnh viễn không ai có thể lấy cắp được. Và tôi yêu sự tinh tế của cô, sự tinh tế cô chỉ dám phung phí cho bản thân mình. Sự tinh tế đã khiến cô đẹp đẽ thanh cao, không cần đến một đôi hoa tai ngọc trai nào khác. 

Một cuốn sách về tình yêu đẹp nhất tôi từng biết .

Mùa hè tươi đẹp

Mùa hè trong cuộc đời là những ngày tháng tươi đẹp nhất, rực rỡ là đầy ước vọng. Nhưng đi kèm với nó là một mối lo lắng mơ hồ, rụt rè chờ đón những ngày đông tàn sắp đến. Bỏ qua cái gọi là "lời cảnh tỉnh" trong câu chuyện này, tôi chỉ nghĩ đến Ginia và tâm trạng của cô, những ngày tuổi trẻ mơ mộng và bước chân chông chênh đầy ngần ngại của cô. Tất cả những điều đó tôi nghĩ rằng mình hiểu, vì nó đã đến trong cuộc đời tôi, như một lần tuổi  mười tám đã từng đến.

Tôi nhớ những câu thơ trong bài Mùa hạ rớt của Olga,

Có một mùa trong ánh sáng diệu kỳ, 
Cái nắng êm ru, màu trời không chói, 
Mùa hạ rớt cho những người yếu đuối, 
Cứ ngỡ ngàng như lúc mới vào xuân. 

Trên má mơ hồ tơ nhện bay giăng, 
Se sẽ như không, nhẹ nhàng, phơ phất... 
Lanh lảnh bầy chim bay đi muộn nhất
Hoa cuối mùa sặc sỡ đến lo âu. 

Tôi thấy Ginina trong đó, những mơ mộng ảo tưởng của cô về cuộc đời, những lo âu rụt rè trước cám dỗ và cả cái ham muốn được trải nghiệm sự sa ngã để lớn lên. Thời khắc mà Ginia đang sống, tuổi đôi mươi rực rỡ, lần rực rỡ cuối cùng để bước sang những ngày tháng thu tàn, thời khắc mà mọi thứ đều hết minh cháy huy hoàng trong nỗi hoang mang. Hoang mang là tâm trạng chung khi ta biết rằng những điều đẹp dễ trước mắt rồi sẽ ra đi, mà con đường phía trước không trải dài cho ta thảnh thơi dạo bước. Nhưng hiện thực vẫn quá đẹp để phải lo nghĩ và lãng quên...

Đừng phán xét Ginia, cũng đừng làm thế với Amelia. Cho dù thơ ngây, thì Ginia vẫn có mầm tối trong con người mình và cô có quyền tìm hiểu về nó. Amelia là một người dẫn đường tiêu cực, nhưng lựa chọn vẫn là Ginia, vì cô muốn hiểu, muốn trải nghiệm, muốn sống và lớn lên. Chỉ là cô không biết rằng, không giống như thời tiết, mùa hè tươi đẹp của đời cô sẽ không bao giờ quay trở lại. Dẫu vậy, những gì cô trải qua đều luôn có ý nghĩa của nó. Tình yêu dại khờ của cô  dành cho Guido, tuy chuốc lấy một nỗi buồn và cay đắng, nhưng không phải nó đã từng đem đến cho cô hạnh phúc đó sao. Sau này khi nhìn lại, có lẽ Ginia sẽ cười vào chính nỗi buồn ấy, nhưng cô cũng sẽ không bao giờ tìm lại được cảm xúc tươi mới trong treo ấy nữa đâu...

Có một thời vừa mới bước ra 
Mùa xuân đã gọi mời trước cửa 
Chẳng ngoái lại vết chân trên cỏ 
Vườn hoa nào cũng ở phía mình đi. 

Đường chẳng xa, núi không mấy cách chia. 
Trong đáy mắt trời xanh là vĩnh viễn 
Trang nhật ký xé trăm lần lại viết 
Tình yêu nào cũng tha thiết như nhau. 

Có một thời ngay cả nỗi đau 
Cũng mạnh mẽ ồn ào không giấu nổi 
Mơ ước viễn vông, niềm vui thơ dại 
Tuổi xuân mình tưởng mãi vẫn tươi xanh 

Và tình yêu không ai khác ngoài anh 
Người trai mới vài lần thoáng gặp 
Luôn hy vọng để rồi luôn thất vọng 
Tôi đã cười đã khóc những không đâu 

Một vầng trăng niên thiếu ở trên đầu 
Một vạt đất cỏ xanh rờn trước mặt... 
Mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc 
Nỗi vui buồn cũng khác những ngày xưa 

Chi chút thời gian từng phút từng giờ 
Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt 
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết 
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già. 

Tôi đã đi mấy chặng đường xa 
Vượt mấy núi mấy rừng qua mấy biển 
Niềm mơ ước gửi vào trang viết 
Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư 

Em yêu anh hơn cả thời xưa 
(Cái thời tưởng chết vì tình ái) 
Em chẳng chết vì anh, em chẳng đổi 
Em cộng anh vào với cuộc đời em 
Em biết quên những chuyện đáng quên 
Em biết nhớ những điều em phải nhớ 

Hoa cúc tím trong bài hát cũ 
Dẫu vẫn là cung bậc của ngày xưa 
Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ 
Nhưng đâu phải là điều em luyến tiếc.
(Xuan Quỳnh)

Cuốn sách này rất kỳ lạ, nó viết tưng tửng, có khi thô lỗ và suồng sã, nhưng nó luôn nhắc tôi nhớ những bài thơ rất ngọt ngào. Có lẽ nó là đặc quyền của tuổi trẻ  bất cứ  điều gì rồi cũng sẽ tươi đẹp, theo cách riêng của nó.

Ba phụ nữ can đảm

Nếu bạn cần thêm sức mạnh, hoặc sự an ủi sẻ chia, thì đây là cuốn sách dành cho bạn. Dù rằng văn phong nó không dễ đọc, và câu chuyện nó bi thương, nhưng nếu bạn đọc kỹ, mọi câu mọi chữ trong cuốn sách sẽ thấm vào bạn, đầu tiên là nỗi buồn, sau đó mới là lòng can đảm, như một thử thách tất lẽ dĩ ngẫu của cuộc đời, mọi thứ chỉ có thể đến khi ta hết lòng tìm kiếm.

Marie Ndiaye có một văn phong cực kỳ lạ. Mỗi đoạn văn giống như một giọt mực rơi xuống giấy rồi lan tỏa xung quanh, bủa vây những cảm xúc từ hiện tại đến quá khứ, từ nơi này trôi dạt đến nơi kia; như một con nhện giăng cái lưới mắc míu nỗi sầu của mình trong từng hốc nhà tăm tối. Tôi đọc những đoạn văn dài lê thê, ngắt nhau bằng nhiều dấu phẩy nhưng rất hiếm khi có một dấu chấm, càng đọc càng bị buông chùng xuống bởi vô vàn cảm xúc đè lên, như nỗi lòng tuôn trào tuôn trào chỉ dừng lại thở dốc và rồi tiếp tục tuôn ra. Cuộc đời càng từ đó gia tăng sự nghiệt ngã của mình lên từng số phận. Cho đến cuối cùng, nó vẫn tiếp tục như thế, không đẹp hơn lên, không bớt tàn độc hơn, dửng dưng như là chính nó.

Ba câu chuyện trong cuốn sách này không liên quan gì đến nhau. Mối liên hệ giữa họ là màu da, đất nước Senegal và Pháp. Ba số phận bi kịch, trôi dạt từ nước này sang nước khác, lạc lõng, côi cút, hoang mang trong sự và chạm của hai nền văn hoá. Nhưng đây nhất định vẫn là một cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh, trọn vẹn chứ không phải là tuyển tập truyện ngắn, dù nó cũng không kể hết mọi thứ về cuộc đời, số phận của từng người. Nó chỉ là những lát cắt, phơi ra những mảnh đời với những vết thương chồng chất theo tháng năm, những khoảng trống không ai bù đắp được. Norah, Fanta, Khady, ba người phụ nữ đi qua hết biến cố này rồi biến cố khác, chiến đấu giành cho minh trái tim với nhịp đập bình thường, chống lại những tổn thương mà cuộc đời có vẻ quá ưu ái dành cho. Mỗi biến cố ập đến là mỗi lần họ đau đớn vật vã, nhưng họ chưa từng gục ngã.

Tôi đọc được trên một chiếc ghế đá dòng chữ : Can đảm không phải là không sợ hãi, mà là vượt qua nỗi sợ hãi. Đó chính là lòng can đảm của những người phụ nữ, không còn cách nào khác phải đối diện với cuộc đời, nhìn thẳng vào nỗi nghiệt ngã dửng dưng của nó mà bước tiếp. Họ chông chênh, thiếu thốn, lẻ loi. Nhưng họ vẫn chống chọi đến cùng và giữ cho mình một trái tim mạnh mẽ bất khả xâm phạm. Đó, là tất cả những gì mà cuộc đời trao trả cho họ, đổi những vết thương để lấy sự kiên cường.

Cuốn sách này không đòi hỏi gì về sự bình đẳng, cũng chẳng có tuyên ngôn nữ quyền nào ở đây. Và những người đàn ông trong cuốn sách này, tuy bạc nhược, ích kỷ, hèn hạ, nhưng chưa bao giờ những người phụ nữ ấy thôi mong chờ một người để tựa nương. Họ chưa từng quy nạp rồi kết án đàn ông, dù những người đàn ông họ có thật là quá tệ. Tất cả những gì họ muốn, là được quyền yếu đuối để được chở che, được sợ hãi bỏ cuộc mà vẫn còn con đường lùi, được làm một người phụ nữ đúng nghĩa bên cạnh một người đàn ông đúng nghĩa. Can đảm, là lựa chọn cuối cùng khi không còn gì để chọn.

Sức mạnh đến từ cuộc đời, nếu bạn còn muốn tồn tại giữa cuộc đời này, bạn sẽ tìm ra sức mạnh. Đó là những gì cuộc đời đáp trả cho bạn, để nói với bạn rằng, nếu tất cả mọi ngả đường đều bị chặn  nó luôn chừa cho bạn một lối đi, là tiến thẳng lề phía trước. Và thậm chí con đường đó cũng không còn, như Khady, cô vẫn còn bầu trời để ngắm, trái tim thanh thản nhẹ nhõm đập trong những giây phút cuối cùng, để nhận ra cô chưa bao giờ thôi yêu cuộc đời. Cuộc đời, vì vậy cũng yêu ta, tuy là không theo cách mà ta muốn.

Phút tráng lệ cuối đời

Nếu không đọc text bìa cuối, có lẽ tôi sẽ không nhận ra đây là câu chuyện tình yêu của ông ấy. Người đàn ông tôi chỉ được ngắm nhìn qua những bức ảnh tư liệu đen trắng, với đôi mắt mở to nhìn đăm đăm vào ống kính, một chút u buồn, một chút thảng thốt, và rất nhiều sự thấu suốt, cứ như ông ấy thấy được hết mọi thứ. Khuôn mặt xương, đôi tai to vểnh mà trong những bức biếm họa người ta vẽ ông trông như một con dơi. Ngoại hình của ông có cái gì đó kỳ dị, đáng sợ và cô đơn - kiểu thiên tài điên khùng như Van Gogh chẳng hạn. Nhưng trong câu chuyện tình yêu mà tôi đang đọc, ông hiện lên với vẻ hiền lành, giản dị, một chút nhút nhát nhưng rất tha thiết trong tình yêu, để bằng tình yêu, chứ không phải là văn nghiệp, ông đã biến những giây phút cuối cuộc đời mình thành những phút tráng lệ

Có thể đây là một cau chuyện hư cấu- vì những bức thư tình giữa họ đã bị thủ tiêu, nhưng Dora đích thực là người phụ nữ cuối cùng của đời ông. Cô, với tuổi 25 phơi phới xuân xanh của mình, đã đến bên ông, vào cái giờ phút mà ông nghĩ là chẳng còn chờ đợi gì nữa, chẳng ai còn đến nữa. Thì cô đến, tự nhiên và dịu dàng, cứ như cô đã ở đó suốt 40 năm để chờ ông, cứ như cô đã thấu suốt 40 năm ấy đến từng chân tơ kẽ tóc. Từ ánh nhìn đầu tiên cho đến ánh nhìn cuối cùng, ông luôn biết rõ ràng mình yêu cô mà không hề tự hỏi lý do tại sao. Họ cứ yêu nhau như thế, như kiểu sóng trên mặt hồ vào một ngày tìm được hòn sỏi của đời mình, cứ tỏa những đợt sóng tròn đều đặn xôn xao mãi cho đến giây phút cuối cùng.

Nhưng nếu họ cứ yêu nhau như thế, thì tôi cũng chẳng cảm động gì mấy. Tình yêu đầy rẫy trên cuộc đời, lý gì phải cảm động vì hai người gặp rồi yêu nhau từ đầu chí cuối, chẳng ai buồn ngăn cản. Nhưng có một sự đồng cảm và ngưỡng mộ rất lớn của tôi, đến từ thời đại mà họ đang sống, thời mà người ta gọi là đại suy thoái với những cơn đói và những cuộc di cư tràn ngập châu Âu, thời mà phát xít manh nha với chủ nghĩa bài Do Thái- là họ. Còn ông, ông bị lao giai đoạn cuối, chẳng bao lâu thì giờ phút cáo chung cũng điểm. Xã hội điêu tàn, còn ông thì suy kiệt, ông chẳng dám cho cô một lời hứa hẹn gì. Vậy mà, cô đã xách vali phiêu bạt theo ông, từ Muritz đến Berlin, Praha, Vienna và Kierling trạm cuối của đời ông. Cô đi như thể cô đã lên kế hoạch từ lâu và cô cũng không băn khoăn là đời mình sẽ trôi về đâu, cô chỉ thấy ông, ánh sáng duy nhất, thỏi nam châm duy nhất, tình yêu duy nhất của cuộc đời. Còn với ông, cô còn hơn cả thế, cô là tất cả những gì tráng lệ nhất mà ông có được.

Họ yêu nhau dịu dàng, tôi không biết dùng từ gì hơn. Họ không lao vào nhau cuồng nhiệt mê đắm, dù tuổi 25 cô xứng đáng được như thế. Nhưng từ khi gặp ông, cô đã bỏ lại tuổi 25 của mình ở đâu đó rất xa xôi. Cô cẩn trọng, bình thản và nồng nàng trong sự dịu dàng của mình. Mỗi khi họ bên nhau, cuộc đời ấm cúng bình an, và họ yêu những phút giây như thế. Những phút giây mà cơn cuồng phong đại suy thoái không thể làm họ tê liệt và nản lòng, cứ như dòng máu trong huyết mạch được nuôi sống bằng điều kỳ diệu có tên là tình yêu ấy, mãi mãi không nguội lạnh.

Thế giới này sẽ nhắc tên ông rất rất lâu sau đó ( tôi nhắc tên ông hằng ngày), nhưng người ta không mấy người nhớ đến co. Mà cô cũng không cần điều đó, cũng như cô không quan tâm mấy đến sự nghiệp lừng lẫy của ông. Cô chỉ cần ông, người đàn ông già nua, ốm yếu, ho lao, người đàn ông suy kiệt, người đàn ông duy nhất cô yêu. Dường như cô là phần thưởng duy nhất mà cuộc đời ban tặng cho ông, sau chừng ấy năm miệt mài với nó. Nhưng đó là phần thưởng khiến cả hai mãn nguyện và hạnh phúc, là được sống, và chết trong tình yêu.

P/s : Bạn có đoán được ông ấy là ai không?

Đỏ

Đỏ rất rực rỡ trên kệ sách, nhưng tôi đã thờ ơ đi qua nó khá lâu mà không chịu dừng lại cầm lên, bất chấp những lời khen tặng trên các diễn đàn lẫn từ các blogger viết review sách. Có thể tôi hơi mất lòng tin ở các tác giả nữ-Việt nam-9x, cũng có thể các tác giả nước ngoài mà tôi thích liên tục xuất hiện trên giá sách mà tôi cứ tặc lưỡi đẩy Đỏ xuống dưới thứ tự ưu tiên. Nhưng rồi cũng đến một ngày tôi "phá ngã chấp" mà cầm lên, đọc với ít nhiều dè dặt nhưng rồi không ngờ là mình đã đọc được một cuốn khá như vậy, từ một tác giả còn trẻ như vậy. Đỏ, thậm chí tôi thấy hay hơn mọi lời khen tặng mà tôi đã từng đọc trước đó dành cho nó.

Đỏ gồm hai truyện vừa : Đỏ và Nước xốt cà chua. Nếu Đỏ gợi cho tôi nhớ đến những thước phim buồn câm lặng của Vương Gia Vệ, thì Nước xốt cà chua lại có cái vẻ tưng tửng nhưng cũng trầm buồn của những drama Nhật. Đó là cái nhược điểm duy nhất mà tôi nghĩ cô ấy thiếu, một chút nhuần nhị Việt Nam. Nhưng tôi cũng tự thấy đó là cái đòi hỏi quá lớn, khi mà sức hút của các nền văn hoá khác lên thế hệ trẻ Việt Nam là mạnh không thể cưỡng, và có thể việc ôm khư khư cái bản sắc của mình nó cũng chẳng hay ho gì mấy. Hãy cứ đi theo cái gì mà bạn thích thôi, thế đã.

Đỏ có một vẻ gợi cảm kỳ lạ, trong những dòng tự sự không lời đối thoại, trong cái buồn lạc lõng đơn côi mà không chút gồng mình chống chọi. Giống như ta cứ thế đi qua những đám đông xa lạ, mặc lòng nhìn mọi thứ trôi qua. Ngay cả những đoạn kịch tính nhất, tôi vẫn tìm được một sự thờ ơ như mặc định rằng mình là người ngoài cuộc của nhân vật chính. Nhưng chính vì thế mà tôi thấy buồn, buồn tới phát khóc, vi chính sự đứng ngoài ấy, nỗi mặc cảm không có chỗ trong cuộc đời của bất cứ ai, khiến cho bàn tay khi chuẩn bị chìa ra lại giật mình rút lại, rồi lại ngập chìm trong một nỗi hối hận rằng sao ta không cố gắng hơn, và liệu thế thì mọi thứ có khác?

Nước xốt cà chua không buồn đậm đặc như Đỏ, nhưng nó cũng buồn, cái buồn chìm xuống dưới vẻ tưng tửng, bất cần và hung hãn của cuộc đời. Những nhân vật cứ thế tìm nhau trong một thế giới quẩn quanh chật hẹp, tìm một cách vội vã gấp gáp như sợ tuổi trẻ sẽ trôi qua, tình yêu sẽ biến mất. Những cuộc tìm kiếm chồng chéo gây ra một bầu không khí rối ren căng thẳng, một chút ly kỳ, một vài bóng tối không lý giải trong những quãng đời phía trước, và tác giả cứ để họ đi tìm nhau với những trái tim khiếm khuyết như tìm một mảnh ghép phù hợp. Nhưng cuối cùng, không phải ai cũng tìm được. Câu chuyện kết thúc với những tâm trạng mơ hồ, những mối quan hệ lửng lơ không xác định. Dù vậy , nó vẫn có hậu với rất nhiều lời bộc bạch, rốt cuộc người ta vẫn có thể phơi bày được nỗi lòng. Chỉ cần vậy đã, những chuyện khác rồi sẽ từ từ đến.

Nguyễn Dương Quỳnh làm tôi ngạc nhiên, một người viết trẻ thế, mà có thể đằm thắm dịu dàng mà vẫn nồng nàng thế, mà trong cái nhẹ nhàng ấy vẫn thấy nét nỗi loạn mạnh mẽ thế. Đâu dễ gì mà tìm được một cá tính tinh tế thế giữa một rừng những cây bút trẻ suốt ngày dằn mặt tình yêu. Với sự dịu dàng điềm tĩnh này, tôi nghĩ cô ấy có đủ sức đi xa và lâu, dù sẽ không có những tác phẩm rung chuông gióng trống hay thật khó có một hàng dài xếp hàng chờ cô ký, nhưng mà độc giả trung thành của cô chắn chắn có. Tôi chẳng hạn :)