Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Chết ở Venice


Hiếm có nơi nào trên thế giới có được vẻ đẹp như Venice đã có, kiểu đẹp nửa thiên đàng nửa trần tục, nửa thanh lịch nửa hoang dại, vừa ngọt ngào lãng mạn vừa bí ẩn và đầy bất trắc. Có lẽ vì vẻ đẹp đó mà Thomas Mann đã chọn Venice làm nơi dấn thân cuối cùng cho nhân vật của ông : Gustav von Aschenbach, một nhà văn đức cao vọng trọng, người đã dùng gần như toàn bộ cuộc đời mình để chiến đấu cho văn chương nghệ thuật, với cái tinh thần chiến đấu kiên cường và tính khắc kỷ đã tôi luyện từ thuở còn thơ. Cuộc dấn thân cuối cùng đầy rung động, nhục cảm và hủy hoại nhưng hoàn toàn xứng đáng để đánh đổi.

Cũng giống như trong Núi thần, phong cách viết của Thomas Mann ở cuốn sách này cũng chậm rãi, thong dong và không hề thiếu những nụ cười thấp thoáng. 1/3 cuốn sách dùng để xây dựng nhân vật Aschenbach vững chãi kiên định như núi với tư tưởng nghệ thuật đầy tính hàn lâm và mô phạm, nhân vật chưa bao giờ chịu thả lỏng bàn tay lẫn tâm hồn trước cuộc sống, chưa bao giờ mất kiểm soát với tâm trạng. Aschenbach sống một đời đầy khắc kỷ và đầy phòng thủ những tưởng sẽ không có gì tác động cho đến ngày chiếc gondola từ từ đưa ông đến Venice, quanh co trong thế giới chằng chịt kênh rạch, mơ hồ những cái nhìn bí hiểm và mời gọi nồng nàn. Diễn biến của quá trình ấy phảng phất câu hát Lưu Nguyễn quên trần hoàn của Thiên Thai dạo nào, đầy mê đắm ngọt ngào nhưng hứa hẹn rất nhiều điều phải đánh đổi. Một cuộc sa ngã có sẵn điềm báo nhưng lại quá nhiều cám dỗ.

Câu chuyện tình yêu đồng giới chiếm khoảng 2/3 còn lại, nhưng phần lớn đó là thứ tình cảm một chiều. Chỉ thỉnh thoảng cậu bé đẹp trai Tadzio mới dành cho ông một vài ánh mắt chứa "dụng ý". Còn lại tất cả những gì chúng ta có là câu chuyện diễn ra trong nội tâm của Aschenbach, cuộc đấu tranh vật vã để giữ lại ngọn núi đã định dạng và xây dựng nên trước sự sụp đổ do cám dỗ của bản năng, của những giấc mơ thầm kín đã bị tháo cũi sổ lồng để vươn vai đứng dậy. Đến gần cuối đời, lần đầu tiên Aschenbach nghe thấy tiếng nói của bản năng, của con người thật của chính mình, gầm rú đầy hoang dã và khinh khoái, thứ âm thanh mời gọi, buông thả và mãnh liệt. Đó là một cuộc đấu tranh đầy đau đớn lẫn hạnh phúc, bởi những gì nhận được và những gì bị đem ra đánh đổi. Nó cho ta thấy sức công phá mãnh liệt của tình yêu và sự tha thiết của con người đối với tình yêu biết đến chừng nào.

Càng đi sâu vào Venice, Aschenbach đã gần như cởi bỏ gần hết con người mô phạm của mình để hiện lên thứ bản năng bị đè nén suốt bao nhiêu năm của một con người nghệ sĩ. Và trong những giây phút bị chất nghệ sĩ dẫn đường, ông đã lạc lối vĩnh viễn vào mê cung của tình yêu, với trái tim say đắm choáng ngợp nhưng cũng đầy đau khổ dằn vặc. Trái tim của Aschenbach cũng là trái tim của tất cả những người nghệ sĩ trên thế giới này, khi dấn thân theo tiếng gọi của bản năng đành bỏ lại sau lưng trách nhiệm và những kỳ vọng, những giá trị đạo đức lẫn cả ray rứt lương tâm. Không có sự thỏa hiệp. Con đường của Aschenbach đi chỉ còn một cách dẫn đến hủy hoại, nhưng sự hủy hoại ấy mới chính là chất liệu để cho nghệ thuật được trường tồn. Tình yêu mà ông dành cho Tadzio là thứ tình yêu ngông cuồng kỳ vỹ và đẹp đẽ, thứ tình yêu mạnh mẽ choáng ngợp và đầy sức mạnh, dám đem cả thế giới từng tạo dựng đầy kỳ công để phủ phục trước cái đẹp. Cho dù tận cùng của cuộc đánh đổi ấy, là cái chết.

Cái gì đã tạo nên những người nghệ sĩ? Có lẽ đó chính là sự mù quáng. Hoặc là sự bất chấp liều lĩnh, sự ngông cuồng phi lý. Hoặc là tất cả những điều đó. Tadzio là biểu tượng của một cái đẹp không sao nắm bắt nổi, và thứ tình yêu của Aschenbach là thứ tình yêu phi đạo đức, vô luân ở thời ấy. Sự sa ngã của Aschenbach có thể coi là một sự yếu đuối không cưỡng nỗi cám dỗ, nhưng cũng có thể xem như một sự can đảm, can đảm chấp nhận mất mát, huỷ hoại, can đảm đương đầu với lương tâm để thưởng thức hương vị ngọt ngào của tình yêu. Cái chết của Aschenbach có thể ví như sự hiến sinh vì cái đẹp của một người nghệ sĩ, không bao giờ hối tiếc.

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Bão


Những cơn bão không cần lý do để đến trong thế giới này, nhưng nó cần những khoảng trống để sinh ra. Từ biển rộng khôn cùng hay từ lòng tử cung âm thầm của những người đàn bà, từ cõi lòng nứt toác vì những vết thương của họ hay từ nỗi chán chường khôn khuây. Bằng những cách khác nhau, người ta mang bão đến với cuộc đời, như bản mệnh, như số phận. Và bằng cách chống trả lại với những cơn bão, họ đã hoá thành những cơn bão.

Biển đã sinh ra bão như những người đàn bà đã sinh ra những đứa con, đầy sợ hãi và bơ vơ nhưng vẫn lựa chọn việc đem chúng vào đời. Bão ở đó trong nỗi ám ảnh về thân phận, trong những vết cứa của quá khứ và những vọng tưởng về ngày mai. Những người đàn bà hoá bão một cách âm thầm, mạnh mẽ và độc ác một cách âm thầm. Để những người đàn ông, những người đã xé toạc đời họ ra để gieo một cơn lốc đớn đau vào đấy, sống nốt quãng đời còn lại dưới bóng mây đen bao phủ của những gì mình gây nên, giữa điệp trùng quá khứ bủa vây và hiện tại không lời hồi đáp. Người ta không thể lấy lại được hạt mầm mình đã gieo, cũng như bão không thể quay lại chui vào đáy biển mà ngủ yên. Và bão vì thế mà đã thành một phần của thế giới, của cuộc đời, một món nợ của kiếp người và lạ thay, nó cũng chính là ý nghĩa của sự sống.

Thế gian sẽ ra sao nếu không có bão? Cũng như cuộc đời này có nghĩa lý gì nếu không có những vết thương? Thế nên năm tháng chưa bao giờ thôi chồng chất những trái ngang của nó lên mỗi số phận, và biển không năm nào quên tặng cho đất liền những trận cuồng phong. Sau tất cả, à mà không, sau mỗi giai đoạn, mọi thứ sẽ tan tác. Nhưng rồi mọi thứ cũng tinh khôi. Mỗi sự đổ vỡ đều là một cơ hội để soi rọi để thấu suốt dù là không dễ để chịu đựng. Đau đớn là chất liệu cho sự trưởng thành, người ta sẽ mạnh mẽ hơn, và dịu dàng hơn nhờ nó. Những người đàn bà hiện lên dưới ngòi bút của Le Clezio đều ngang tàng bất cần khi đối diện với bão tố và rồi đều đằm thắm và nữ tính hơn khi đi xuyên qua nó. Với ông, đàn bà là biển cả, im lặng khi người ta gieo vào lòng nó thậm chí cả một trái bom, nhưng một ngày sẽ tặng lại cho ta những cơn bão đầy bất ngờ cuồng nộ nhưng bất cần truy đòi hay giải thích. Sự nổi loạn của họ đầy ám ảnh nhưng sự nhẫn nhịn của họ thậm chí còn ám ảnh hơn, như một biển khơi phẳng lặng báo hiệu ngày bão đến.

Sau cuối, mọi cơn bão đều tan. Nó có thể cuốn về lòng biển những thứ vô nghĩa hay có nghĩa trên mặt đất nhưng nó đều trả lại cho mặt đất sự bình yên. Mọi thứ luôn có thể được phục hồi, tạo dựng. Bão là cách mà biển đòi lại món nợ cho mình, cũng là cơ hội để người ta được trả những thứ mà mình đã vay hoặc cướp đi, để cứu chuộc tâm hồn mang nhiều tội lỗi. Bão vì thế là sự tha thứ mà thượng để dành cho loài người, dẫu là mãi mãi loài người không bao giờ xứng đáng với bất kỳ một sự tha thứ nào. Nhưng vì thượng đế vẫn còn yêu thương, và vì loài người vẫn còn mong muốn được yêu mà đến cuối cùng, người ta sẽ học được cách tha thứ cho chính mình. Vì yêu, vì thế...

Xác thịt về đâu


Cuốn sách có thể sẽ là một cú sốc nho nhỏ đối với những ai luôn nghĩ về tính bền chặt và bất khả phân ly của tình máu mủ ruột rà, về chất keo nối kết có tên là huyết thống, về những giá trị đạo đức khuôn mẫu và cổ điển - hệt như nó đã từng xảy ra ở phương Tây hơn một trăm năm về trước. Hơn một trăm năm, sự tụt hậu của chúng ta không phải dạng vừa vừa vừa đâu. Nhưng thôi, chuyện đó để dành nói lúc khác.

Như Samuel Butler đã thừa nhận trong cuốn sách này, rằng như mọi tác phẩm của cuộc sống, tác phẩm của ông đã thể hiện chính bản thân ông hơn bất cứ một nhân vật nào khác, nhưng ta cũng phải thừa nhận rằng, Samuel đã cố gắng nhìn nhận câu chuyện với cái nhìn trung lập nhất có thể, và công bằng hết sức mình, để cho ra đời một câu chuyện xác thực, công tâm và không hề định kiến. Sự thẳng thắn này rõ ràng đã thoát khỏi tầm ảnh hưởng của các giá trị đạo đức và tín ngưỡng, vượt ra khỏi những quan niệm cố hữu của thời đại để soi rọi tới những góc khuất của tâm hồn, tìm cho ra mối dây ràng buộc giữa các thế hệ trong một dòng họ, và khiến người đọc phải nhìn nhận đúng bản chất của những sự kết nối ấy, nó chẳng qua chỉ là những nỗi sợ hãi được gieo trồng từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Cuốn sách không bác bỏ các giá trị đạo đức, nhưng nó chỉ cho ta thấy sự vô nghĩa của các giá trị đó, sự hủy hoại tâm hồn và chất độc tiết ra từ nó để ăn mòn giấc mơ của cuộc đời như thế nào. Chúng ta không có quyền lựa chọn gia đình mà chúng ta sinh ra, nhưng nhờ các giá trị đạo đức đầy tính áp đặt, những đức tin mù quáng và ảo tưởng, rốt cuộc, chúng ta cũng không lựa chọn được con đường mà chúng ta sẽ đi, cái con người mà chúng ta sẽ trở thành. Dòng họ Pontifex không sa vào những bi kịch lầm than, nhưng cái lưới mà họ sa vào cũng không hề kém cạnh phần đau khổ, đó là cái bi kịch phải sống một cuộc đời của một kẻ xa lạ với chính mình, phải sống dưới cái bóng ám ảnh của các giá trị đã mặc định như những lưỡi dao treo lơ lửng trên đầu, gồng mình gánh chịu những niềm vui lạc lõng để rồi mặc cảm vô cùng với tấm áo khoác trên người. Từng người một trong dòng họ đều nhận ra thứ mà họ mang, nhưng vì hèn nhát, hay vì nông nổi, hay vì ảo tưởng, họ đều tiếp tục dấn sâu hơn vào thảm kịch mà đạo đức và đức tin đã dựng nên như những kẻ mộng du đi theo lập trình đã định sẵn.

Sẽ không có bài học nào ở đây. Các bài học cũng vô nghĩa như các giá trị đạo đức, hay nói đúng hơn, không có một khuôn mẫu nào chung để áp dụng cho tất cả mọi người. Giáo dục, rốt cuộc không phải tạo ra những con người rập khuôn với những hạnh phúc đầy tính tiêu chuẩn như thứ mà chúng ta đang làm. Giáo dục là mở ra những con đường, những chân trời, những tấm vải. Việc còn lại là của từng người, đi con đường nào, mơ những chân trời nào và khoác tấm áo nào vừa vặn với chính mình. Mục đích của giáo dục là gì nếu không phải là để con người tìm đến với những niềm hạnh phúc thực sự của bản thân? bởi chính hạnh phúc thực sự mới có thể sinh ra được những niềm hạnh phúc mới. Như Ernest, cuối cùng cậu đã thoát khỏi tấm lưới chuẩn mực mà dòng họ cậu đã dệt nên suốt cả trăm năm, để bắt đầu với công việc bần hàn hơn nhưng hợp với cậu hơn, là thợ may. Rốt cuộc, cậu đã có thể sống với cuộc đời mình mong muốn, tự tay may cho mình tấm áo vừa với mình. Đó là cái kết có hậu nhất sau hơn 600 trang sách, cái kết nhẹ nhõm và rộng mở, bất chấp những giá trị, bất chấp luân lý. Tự do thật sự đã khởi đầu.

Không khó đọc như bạn tưởng đâu. Một chút kiên trì, bạn sẽ tìm ra vô số câu cần gạch chân hoặc bôi đậm bằng bút highlight. Chúng ta đã muộn hơn người khác cả trăm năm rồi, đừng để muộn hơn nữa.

Tay sát thủ mù



Đâu là ngưỡng cửa của thế giới bên trong và thế giới bên ngoài? Mỗi chúng ta hằng ngày di chuyển cánh cổng này mà không tự biết ...

Ở trang thứ 400 của cuốn sách, Margaret Atwood viết ra một câu đầy tính chất đánh thức khiến tôi, một người đã kiên trì với ngần đó trang sách, tù mù trong cái thế giới đầy mê lộ với những không gian chồng chéo giữa hiện thực và tưởng tượng đan cài mà chưa thể tìm được một giao tuyến cho tất cả, bỗng dưng bừng tỉnh. Đến đây, tôi đã bắt đầu hình dung và sắp xếp lại mọi thứ theo một trật tự rất zig zắc đi lòng vòng từ thực tới ảo, từ hiện tại đến quá khứ, xâu chuỗi lại mọi thứ theo cảm xúc và ký ức để đến với một câu chuyện ly kì, lãng mạn và bi thương, náu mình dưới gương mặt thản nhiên của tấm vải do tất cả các nhân vật trong câu chuyện ấy dệt nên. Và tôi đã biết tham vọng của cuốn sách là gì. Chính là làm một tia X để chiếu thẳng vào tâm hồn của tất cả, không loại từ là cả chính chúng ta.

Nghệ thuật kể chuyện của Atwood quá tuyệt vời, không quá rối rắm, không đánh đố, nhưng bà dắt chúng ta đi một quãng đường rất dài, băng qua bao thế hệ, băng qua mấy hành tinh và các thể loại người, vừa viễn tưởng về phía tương lai vừa phảng phất chút phong vị cổ điển u hoài trong các câu chuyện kiếm hiệp. Nhưng bà không trộn tất cả chúng lại với nhau mà bóc tách nó ra thành từng mảng nhỏ xen kẽ nhau. Và như được nhìn về từ một hồi ức đã lãng đãng sương, chúng hoà vào nhau ở đường biên giới, không phân biệt thực và mơ. Chính là cánh cửa mà hằng ngày chúng ta đã đi qua mà không hề hay biết ấy, Atwood đã để dành cho phút chót.

Ngoài cách kể chuyện như dệt vải kiểu random ra, thì điều tôi thích hơn nữa chính là văn phong của bà ấy. Không dễ gì tìm được một tác giả có giọng văn vừa ngầu đời, bất cần mà vừa lại thi vị và say đắm nhường kia. Nó dường như lột tả hết tính cách nhân vật, cô gái tên Iris với một vẻ nhu mì cam chịu nhưng ẩn chứa một nội tâm nổi loạn, cái cá tính ngang ngạnh tiềm tàng với khát vọng tự do. Không tâm sự hay thở than, không một chút ai oán, Iris chính là hiện thân của tính nữ, mềm mại dịu dàng nhưng không bao giờ đầu hàng hay bỏ cuộc, với sự bền bỉ âm thầm và khôn khéo. Iris là kiểu người phụ nữ tôi thích, bao nhiêu sức mạnh lặn cả vào trong để sự nhún nhường ra mặt chiến đấu. Cô kiên cường nhưng không lộ liễu, cô mạnh mẽ nhưng không phô phang, cô nữ tính nhưng không ẻo lả. Margaret không cần làm nhiều, chỉ cần tạo ra một nhân vật như thế là đủ để giành lại nữ quyền cho cả thế giới.

Vì bà ấy là một nhà thơ, nên chúng ta có một cuốn sách đầy chất thơ và tính ẩn dụ, nhưng chúng ta cũng có một cuốn sách đầy gai góc và những vết thương. Tấm vải mà Margaret dệt nên vừa mềm mại vừa thô nhám, vừa êm ái vừa đầy vết cứa. Nó chính là thế giới được chiếu rọi từ ánh sáng phát ra phía tâm hồn những người phụ nữ, đầy nhạy cảm nhưng rất can trường. Không nhiều, nhưng đủ để quàng chiếc khăn lên mình như khát vọng của chính họ, được cuộc đời ôm ấp và vỗ về đầy dịu dàng và đau đớn. Như khoác lên mình thứ mà thế giới này ưu ái dành cho họ, là tình yêu.

Bảo tàng ngây thơ


TÌNH YÊU LÀ GÌ?

Bỗng dưng vào thời điểm mọi thứ đã trở nên bình thản, kể cả tình yêu vốn là thứ xa xỉ thuở xưa, kể cả những đau khổ mất mát, những cơn thất tình đã trở thành một cơn rồ dại của tuổi trẻ, ở thời điểm tôi tưởng mình đã "biết" về cuộc đời, thì cuốn sách này xuất hiện, cười vào sự bình thản của tôi và định nghĩa lại về tình yêu và hạnh phúc một cách đầy cụ thể tỉ mỉ, đúng kiểu mà Orhan Pamuk đã làm với Istanbul tôi đã thấy mấy năm về trước.

Giờ, tôi hiểu vì sao mình thích nhà văn này đến vậy. Trên đời những người hoài niệm quá khứ có rất nhiều, những người lặn lội ngược dòng cũng không ít, nhưng chỉ có Orhan Pamuk là cặm cụi nghiên cứu ký ức như một nhà khảo cổ nghiên cứu cổ vật của đời mình, soi tới từng chân tơ kẽ tóc của quá khứ bằng đôi mắt đã gắn kính lúp, để mọi thứ hiện lên rõ ràng, chi tiết và cụ thể. Với Orhan, đó không phải là một cuộc đi tìm như Marcel Proust đã làm với dòng hoài niệm miên man về thời gian đã mất, đó là một công cuộc xây dựng tái thiết với toàn bộ sức lực và tình yêu dành cho một công trình duy nhất và vĩ đại nhất cuộc đời : một mối tình.

Tình yêu mà Kemal dành cho Fusun khởi đầu bằng những cơn lốc cảm xúc cuồng nhiệt tới... bình thường, khi họ lao vào nhau bất chấp cuộc đời và những giá trị đạo đức. Tôi đã đinh ninh rằng, như mọi cơn mưa rào khác, sự vồn vã dồn dập của nó đã được đánh đổi bằng thời gian ngắn ngủi của mình. Nhưng Orhan Pamuk không viết về những cơn mưa như thế, nó khởi thuỷ không phải là một cơn mưa mà là một dòng thác, khi đã tuôn trào vốn không hứa hẹn một ngày sẽ chấm dứt. Một mối tình kéo dài suốt đời, dai dẳng chờ đợi, triền miên với những cơn hy vọng rồi thất vọng chập chùng lúc căng lúc dãn, mối tình ám ảnh toả cái ánh sáng lấp lánh và nhức nhối của nó lên thành phố nơi câu chuyện diễn ra, phủ niềm say đắm của nó khắp các nẻo đường, hang cùng ngõ hẻm, các quán xá, hàng cây, đồ vật. Mối tình ấy không chỉ có hai người mà có cả thế giới nơi họ thuộc về, nơi ánh mắt họ quét qua, nơi bàn tay họ chạm tới. Bằng cách đó, tình yêu chống lại thời gian, với tất cả các bằng chứng mà nó có. Kemal đã dành toàn bộ cuộc đời để xây dựng cho mình một bảo tàng của tình yêu, một cách chuyển hoá và lưu trữ cảm xúc để nó tồn tại mãi hoài trong năm tháng lãng quên...

Cũng như lần đọc Istanbul, tôi luôn tự hỏi : Điều gì khiến người ta có thể yêu nhiều đến vậy? Và Kemal, người đàn ông đã theo đuổi mối tình vô vọng trong suốt 8 năm thì có đáng thương không? Kemal đã trả lời cuối cuốn sách : Tôi đã sống một cuộc đời hạnh phúc. Hoá ra, hạnh phúc đơn giản của cuộc đời chính là được điên rồ theo đuổi điều mình mong muốn, hạnh phúc được bất chấp tất cả để yêu một tình yêu phi lý tới không có thật. Nhưng không phải việc chúng ta có mặt trên đời này và gặp được nhau cũng là một câu chuyện hết sức phi lý rồi sao? Huống gì, muốn tin rằng mối tình kia phi lý cũng không thể, bởi nó thật đến vậy, cụ thể đến vậy mà. Đó, toàn là những thứ cảm xúc mà chúng ta đã từng trải qua. Chỉ có điều chúng ta đã quên, còn Kemal thì không.

Vậy cuối cùng, tình yêu là gì? Kemal đã nói khi đi trong bảo tàng, rằng thật khó để nói tại sao những thứ trưng bày ở đây cuốn hút, cũng như không ai lý giải nổi tình yêu. Việc Kemal bền bỉ theo đuổi một tình yêu gần như vô vọng suốt 8 năm không có nghĩa ông đã yêu một tình yêu vĩ đại hơn những người khác, cũng không khiến ông trở thành một kẻ si tình kiên cường. Với tôi, để tình yêu tồn tại, nó cần những sợi dây, dù mong manh thôi cũng được, nhưng phải có để giữ cho những cơn tuyệt vọng không kéo đến. Và Kemal, với việc lặng lẽ giải phẫu tình yêu của mình, kiên trì soi rọi và nghiền ngẫm chúng, ông đã tìm được sợi dây mong manh ấy để đi đến tận cùng. Tình yêu là thứ chỉ có ai đi đến tận cùng mới hiểu được.

Đời tôi


Tôi muốn dùng tất cả lời khen của mình dành cho cuốn sách này, nhưng không biết phải viết sao mới đủ. Những gì cuốn sách đem đến quả là ngoài sức mong đợi, và những gì tôi nhận được quả tình khiến tôi choáng ngợp. Bao lâu rồi không có một cuốn sách viết chân tình, dễ hiểu và dí dỏm chừng này, mà lại khốc liệt và dữ dội tới vậy? Và bao giờ thế giới mới lại có một nhà phê bình văn chương đích thực như thế? Hay tôi đã mong đợi quá nhiều?

Nhưng nếu bạn đã đọc cuốn sách này rồi, thì thật khó để không mong đợi một điều gì đó từ cuộc sống. Cuộc sống đẹp vậy mà, bởi cuộc sống cho ta tình yêu và đam mê, cho ta nghệ thuật và cái đẹp. Bởi vậy mà cuộc sống dẫu khắc nghiệt và dữ dội, dẫu bạo tàn thì người ta vẫn tiếp tục hành trình của số phận. Marcel Reich-Ranicki, ông ấy đã dùng toàn bộ cuộc đời của mình để chứng minh rằng : tình yêu có thể cứu rỗi người ta biết nhường nào. Vào những giờ phút bi lụy hãi hùng nhất cuộc đời, chỉ có tình yêu mới đủ can đảm bước lại gần ta và an ủi, tiếp thêm sức mạnh. Nói những câu này bạn sẽ cho rằng thật sáo rỗng và ngây thơ, nhưng tôi tin rằng ngây thơ là một phần của hạnh phúc.

Marcel Reich có hạnh phúc không? Đọc những trang cuối cùng của cuốn tự truyện, tôi nghĩ rằng ông đã sống một cuộc đời hạnh phúc. Đó là cái hạnh phúc của một người trải nghiệm, ôm cả thế giới vào lòng bằng toàn bộ tình yêu, sự thấu suốt và cái nhìn tinh tế, sự nhẫn nại và hơn hết là lòng can đảm. Can đảm chính là viên gạch đầu tiên của hạnh phúc, dù Marcel sau này mới thừa nhận điều đó một cách dí dỏm, rằng là một nhà phê bình thì cần can đảm, như ông đã can đảm ăn món xúp kinh hoàng của một nhà văn đầy triển vọng để được trò chuyện cùng anh ta. Mọi thứ đều có giá phải trả, vấn đề là bạn có dám đánh đổi hay không mà thôi.

Đời tôi - Marcel đã đặt tên cho cuốn tự truyện của mình đơn giản như thế. Nhưng khác với những cuốn tự truyện đầy ắp hình ảnh cá nhân và những câu chuyện sặc mùi biện minh giải bày, Marcel hầu như thu mình lại trong cuộc đời của chính ông, chỉ còn lại đôi mắt. Đôi mắt phản chiếu thế giới xung quanh, thời đại, lịch sử, những quay cuồng biến động, đôi mắt nhìn vào tâm hồn mỗi người, đôi mắt tha thiết với văn chương, âm nhạc, kịch nghệ. Cho nên chúng ta có một cuốn sách đầy tư liệu lịch sử với một người kể chuyện bình tĩnh nhẫn nại và sáng suốt, người chưa bao giờ vì đau đớn mà nhìn nhận sai lạc, chưa từng để lòng căm thù thiêu đốt sự công tâm. Chúng ta có một cuốn sách tràn ngập văn chương và âm nhạc với những hiểu biết sâu rộng và tinh tế. Và chúng ta biết, thế giới này có một con người tuyệt vời như thế.

Cuộc đời Marcel là một chuỗi biến động không ngừng nghỉ, là những tháng ngày di cư từ vùng đất này sang miền đất khác. Như ông đã tự giới thiệu một cách dí dỏm đầu sách : tôi, nửa Đức, nửa Ba Lan, và hoàn toàn Do Thái, nhưng cuộc đời ông chưa từng nửa Đức hay Ba Lan, cũng không bao giờ sống như người Do Thái. Số phận của ông là không thuộc về một hệ quy chiếu dân tộc hay lãnh thổ nào, thậm chí ông không thuộc về bang hội đảng phái nào, dù danh nghĩa là có. Chỉ một mình Marcel biết ông thuộc về đâu, quê hương của ông suốt đời chỉ có một : ông thuộc về nền văn học Đức.

Nhờ Marcel, người ta yêu hơn văn học Đức, ông là người hướng ngòi bút phê bình của mình đến với đại chúng. Ông viết cho những người bình thường đọc, ông phổ cập và nhân rộng tình yêu văn chương. Nhờ ông mà tôi hiểu rằng tại sao nước Đức đã sản sinh ra một đội quân diệt chủng, nhưng nhân loại vẫn không thôi kính trọng người Đức. Nhờ ông mà tôi hiểu tình yêu có thể khiến người ta quên đi hận thù như thế nào. Nhờ ông mà người ta biết, thế nào là một nhà phê bình đích thực.

Nếu nói rằng đây là cuốn sách tôi thích thì không đủ. Đây là cuốn sách đầu tiên đem đến cho tôi cảm giác biết ơn và ngưỡng mộ, như ngưỡng mộ chàng Danko ngày xưa trong sách tôi học đã xé toang lồng ngực để thắp đuốc dẫn đường. Cho dù tất cả những gì mà Marcel lý giải đều vỏn vẹn trong vài chữ : vì yêu, thì đó cũng là một tình yêu xứng đáng được vinh danh và ngưỡng mộ, vì tất cả những gì mà nó được đánh đổi.

Cánh cửa


Văn học thế giới đã chứng kiến không ít mối quan hệ lạ thường, cái lạ thường của những điều rất bình thường bị lộn trái, hoặc phơi bày phần giông bão của nó ra. Chính vì sự bình thường đó mà người ta sửng sốt bàng hoàng và rồi đau đớn, để rồi nhận ra nơi sâu kín nhất không phải là địa ngục âm ti mà là lòng người, và hình phạt đáng sợ nhất chính là sự thật. 

Cánh cửa - Szabo Magda đã đặt cho tác phẩm của mình một cái tên giản dị súc tích và cô đọng nhất, một hình ảnh bình thản vô cảm mà chứa đầy tính hai mặt và sự sâu thẳm vô biên. Nó mở cả một thế giới phía sau lẫn phía trước, cả nỗi tò mò khám phá lẫn sự sợ hãi ngập ngừng. Nhưng nó, cũng như mối quan hệ giữa hai người phụ nữ trong câu chuyện này, một nữ nhà văn và một người đàn bà giúp việc, là thứ có mặt nhan nhản trong cuộc đời này, thứ bình thường tới vô hình và vô nghĩa trong tâm trí người khác. Cánh cửa - bản thân nó nói hết được tất cả những gì mà Szabo Magda muốn nói, không ẩn dụ, không bóng gió, không hoa mỹ. Nó thản nhiên gây chấn động bằng những gì nó dẫn đến : cuộc đời của người đàn bà giúp việc có tên Emerenc.

Trên thực tế, cánh cửa của Emerenc chỉ mở vào những trang cuối cùng của cuốn sách, cũng là những trang cuối cùng của đời bà. Emerenc giống như một loài giáp xác khổng lồ và mạnh mẽ với vỏ bọc dày, một pháo đài bất khả xâm phạm sừng sững bước vào cuộc đời của hầu hết mọi người, tỏa ra cái uy quyền mạnh mẽ đầy xác tín và kiên định cùng với ánh nhìn sắc sảo thẳng băng, cái ánh nhìn sâu tới gan ruột của từng người. Và họ, trở thành tín đồ của bà trong im lặng. Từng người một đến trước hiên nhà và mở rộng lòng ra với bà. Bà đón nhận họ, nhưng chỉ ở hiên nhà. Cánh cửa duy nhất vào nhà luôn đóng chặt.

Nhưng cuối cùng pháo đài ấy cũng mở cửa cho một người. Cô nhà văn nóng nảy vụng về, cô không nhiều từng trãi, thiếu cả bao dung và sức chịu đựng. Nhưng với cô, bà mở cửa nhà mình và lòng mình. Có thể bà thấy ở cô tuổi trẻ và những giấc mơ của mình, cũng có thể sự ngang ngạnh của họ giống nhau. Cũng có thể vì Viola, con chó đực có cái tên của giống cái là gạch nối giữa họ. Và hơn hết, tôi nghĩ bà nhìn thấy được ở cô tấm lòng, cô không phải là người có thú vui hay sở thích chăm lo cho người khác, nhưng cô đã cố gắng vì cô biết yêu thương. Họ cuối cùng cũng tìm được cho mình một sợi dây nối.

Vào cái ngày mưa bão ấy, cô đã gõ cánh cửa nhà bà. Và bà đã mở cửa. Vào cái khoảnh khắc ấy, cánh cửa đã biến thành gót chân Achilles của bà, cô cũng gánh thêm một tình yêu và lòng tin mà cô không biết rằng nó vượt quá sức mình. Mối quan hệ giữa họ đã đi đến một giai đoạn mà tôi nghĩ rằng là cao trào của tất cả những gì đẹp đẽ, để rồi bắt đầu rơi. Cô nhà văn là que diêm duy nhất bà cho phép bật lên thắp sáng những ngõ ngách trong pháo đài cuộc đời bà, soi rọi những vết thương và những nỗi ám ảnh, những chua chát đắng cay. Phần yếu đuối mong manh nhất và tất cả lòng tự trọng của bà đặt vào tay cô. Để rồi vào giờ phút quan trọng nhất của đời mình, cô đánh rơi que diêm để nó biến thành ngọn lửa.

Sự thật là một cánh cửa. Ta không thể lường được mọi thứ vào cái giờ phút ta mở nó ra. Thế giới này vẫn còn đẹp bởi vì người ta vẫn còn những cánh cửa đóng kín và giữ gìn những bí mật của mình. Đó là cái quyền duy nhất mà người ta có được khi bị tước hết các quyền làm người khác : quyền được im lặng. Emerenc dùng toàn bộ cuộc đời mình để xây dựng nấm mồ cho những bí mật ấy, pháo đài cho những vết thương ấy. Đến ngày nó bị khai quật, bằng một nhát búa đập vào cánh cửa, như một nhát dao đâm xuyên bộ áo giáp để cắm phập vào tim, đau đớn, cuộc đời bà cũng chấm dứt.

Người ta vẫn đi tìm sự thật, dù người ta biết sự thật tàn nhẫn và đắng cay. Cũng như người ta sẽ yêu dù biết yêu thương là hủy hoại. Tôi không trách cô nhà văn, dù cô đã phạm lỗi không thể cứu vãn, nhưng tôi biết Emerenc sẽ không bao giờ hối hận vì đã yêu và thương cô, đã chia sẻ pháo đài đời mình với cô. Xét cho cùng, bà cũng có nhu cầu được thấu hiểu và chia sẻ, bà cũng không muốn sống mãi trong bộ áo giáp của loài giáp xác. Chỉ là bà không giữ lại được cho mình chút kiêu hãnh cuối cùng khi lìa thế giới. Thôi thì cũng coi như bà đã dùng nó để đánh đổi lấy tình yêu.