Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Một mùa thơ dại

Dịch giả Phan Nhật Chiêu đã gọi Ichiyo là thiên tài của mùa xuân vĩnh cửu. Người con gái mãi mãi dừng lại ở tuổi 24, với 24 mùa xuân trải qua trong đời, nhưng đã kịp ghi dấu tên tuổi của mình trên văn đàn như một ngôi sao lấp lánh.

Ichiyo- Nhất Diệp, cô gái ấy đã lấy hình ảnh một ngọn cỏ lau đơn độc mà Bồ Đề Đạt Ma dùng để vượt sông Dương Tử làm bút hiệu của mình, và cũng giống như ngọn cỏ lau mỏng manh, cuộc đời của nàng ngắn ngủi nhưng đẹp đẽ và thanh cao, những gì nàng để lại là một linh hồn vừa hiện hữu vừa không sao nắm bắt nổi qua những trang viết

Takekurabe - Một mùa thơ dại- nguyên nghĩa gốc của nó là So sánh chiều cao. Tựa của cuốn sách được rút ra từ trong bài thơ mà một chàng trai gửi cho người yêu trong tác phẩm cổ điển Nhật bản có tên là Truyện Ise :


Khắc dấu chiều cao
bên thành giếng nước
vượt xa lúc nào
kể từ ngày cuối
nhìn em nao nao

Và vì thế, Một mùa thơ dại là câu chuyện tình thơ dại dấu trong mình nó những số phận và những cuộc đời, là thế giới của những đứa trẻ chuẩn bị thành người lớn, đánh rơi tuổi thơ bên triền dốc của sự trưởng thành với cái định mệnh mà cuộc đời dành cho. Trưởng thành là một cột mốc mang nhiều vết thương như một sự đánh đổi , để có từng trãi, ta phải đánh đổi thơ ngây, để có mạnh mẽ ta phải chấp nhận nỗi cô đơn lạnh lẽo.

Một mùa thơ dại được ví như một khúc bi ca về nước Nhật, đất nước đã vượt qua thời thơ ngây của mình để trở thành một cường quốc mạnh mẽ nhưng trong lòng không sao quên được những nỗi buồn bã cô đơn...

Một cuốn sách mà nhất định nhất định bạn phải đọc.

Người tình

Đây là một cuốn tiểu thuyết rất kỳ lạ. Mỏng, ngắn nhưng lại biết khơi gợi người đọc tới với rất nhiều thứ cảm giác. Bồn chồn, khắc khoải, uể oải, mãnh liệt, nồng nàn lẫn cả chán chường. Thứ cảm giác tồn tại trong một bầu không khí nóng ẩm hừng hực nhiệt đới, rực rỡ của thanh xuân lẫn rực rỡ của phai tàn. Những nhân vật sống hết mình với tình yêu nhưng mang trong mình một nỗi u uất sầu muộn đến rã rời, không đủ sức đi tìm cho nhau một tương lai hứa hẹn. Và xứ sở nơi họ gặp nhau , miền đồng bằng nhiệt đới phù sa với những ngã rẽ mênh mông sông nước, giống như chính mạch truyện, cứ dẫn người ta đi theo dòng hoài niệm miên man, trôi xuôi ký ức để tìm lại miền nhớ xanh thẳm đã bồi lở theo thời gian với những khoảng trống thênh thang thinh lặng.

Cô mười lăm tuổi. Khuôn mặt và thân hình non nớt nhưng tâm hồn già cỗi hơn thế rất nhiều. Có thể ở cái xứ sở nhiệt đới nóng ẩm này, tâm hồn của người ta bị thiêu đốt nhiều hơn , bằng những nỗi sợ hãi, mông lung, bằng sự xa lạ. Nhưng trên chuyến phà Vĩnh Long- Sa Đéc năm ấy, cô đã tìm thấy một người đàn ông của cuộc đời mình, dù cô không nhận ra. Người đàn ông thuộc về xứ sở mà cô muốn rời bỏ, người đàn ông khác màu da, khác địa vị và khác luôn cả giai cấp. Người đàn ông đã yêu cô từ cái nhìn đầu tiên, yêu say đắm và tuyệt vọng cho đến tận cuối đời.

Họ đến với nhau. À không, họ lao vào nhau. Giống như thác lũ, giống như đập nước vào ngày mở chắn. Họ thả mình vào cơn lốc dục vọng để lãng quên. Lãng quên nỗi đau không thốt nên lời, lãng quên sự bất lực tuyệt vọng của mình, sự héo úa tàn phai của tuổi thanh xuân đã hằn lên tim họ, lãng quên cuộc đời, lãng quên thời gian...

Cô còn quá trẻ để nhận diện tình yêu. Cô nghĩ mình đến với anh vì tiền, vì tình dục. Cô không biết rằng cái anh mang đến cho cô không chỉ có chừng đó. Dù anh không thể giữ cô đến cùng, dù anh yếu đuối, hoang mang, không bảo vệ cô trước danh gia vọng tộc của mình, nhưng anh đem đến cho cô cảm giác bình yên, nơi nương náu trong cuộc đời buồn bã của mình. Cô không biết rằng được ở bên nhau trong cảm giác yên ả, thanh thản êm đềm, là đã được ở trong tình yêu...

Cuốn sách không dễ đọc. Nó trúc trắc , lấp lửng, bỏ dở nửa chừng. Nó như những nhánh sông ở miền Tây, bất thần rẽ ngang, bất thần đổi dòng. Nó để lại những khoảng trống hoang mang trong lòng người đọc, vất vả đi tìm cách xâu chuỗi các sự kiện rồi phỏng đoán, nghi ngờ. Nhưng theo mạch văn và bút pháp nồng nàng của Marguerite ta mặc lòng để những sự kiện không trọn vẹn trôi xuôi, thả mình vào ký ức đầy biến động, đầy ngọt ngào và u uất của những con người trong câu chuyện. Mặc lòng chấp nhận những khoảng trống bí hiểm không lời giải thích đó như chấp nhận một kỷ niệm đã không còn hình hài rõ nét, đã bị bôi xóa theo tháng năm, chỉ còn lại hương vị nồng nàng gợi cảm của nó, phảng phất , quấn quýt, lay động...

Marguerite Duras đã kể câu chuyện của đời bà, câu chuyện tình xốn xang nồng nàng đầy nhục cảm. Nhưng người ta nói rằng, anh không phải là nhân vật chính, cô cũng không phải là nhân vật chính. Nhân vật chính của câu chuyện chính là cái xứ sở, nơi cô và anh gặp nhau. Là miền đất mênh mông sông nước, những cơn gió, những cơn mưa nhiệt đới, những mùa nắng ngột ngạt, những triền sông xanh thẳm. Nơi cô dù muốn bỏ đi, vừa không thể nào phủ nhận được nó đã tạo nên chính cô bây giờ. Miền đất đã cho cô cái vẻ đẹp của nó, sự ngây thơ, sự nồng nhiệt, sự uể oải, sự cô độc hoang hoải của nó. Duras đã trả lời tuần báo Le Nouvel Observateur về cuốn sách, về Việt Nam thế này: “Tôi không thể giải thích được rõ rệt tại sao, chỉ cảm thấy nơi chốn chào đời ấy, với tuổi thơ và tuổi trẻ của tôi ở đó, càng về cuối đời càng trở thành một hiện tại sáng rỡ trong tôi, như đó là bản mệnh tôi, như chính phần đời xa thẳm ấy tạo ra tất cả những phần đời của tôi sau đó. Và điều lạ lùng, cuốn sách này còn như sự chiếu sáng, một cắt nghĩa cho tất cả những cuốn sách tôi đã viết ra”…  

Bay đêm

Nếu như có một cái chết nào được gọi là nên thơ, thì đó là cái chết giữa bầu trời bao la. Dĩ nhiên, chuyện đó chỉ xảy ra khi bạn đang bay. Bay một cách chủ động chứ không phải ngồi trong cái khoang thấp tè dài sọc đợi giờ đáp xuống đường băng :D

Trong cuốn Nam tước trên cây của Italo Calvino, chàng Nam tước Bóng Râm cũng chọn cho mình một cách ra đi như thế. Như cánh chim khuất nẻo, như một vì sao tắt lịm giữa thinh không. Cái chết- hay là sự kết thúc của chàng để lại cho câu chuyện một dư âm mạnh mẽ về sự nhẹ nhõm và thanh thản, sự kỳ diệu của cuộc đời và sự êm ái của lời giã biệt.

Bỗng dưng tui nghĩ về Saint Exupery, về những người đàn ông sống hầu hết cuộc đời trên bầu trời, ngắm thế giới rộng lớn bên dưới qua cánh cửa máy bay. Cảm giác đó thật tuyệt vời. Những cánh đồng mênh mông, những thung lũng bát ngát, những thành phố dát đèn màu vương vãi những hạt ngọc lấp lánh của mình. Mọi thứ trở nên kỳ diệu khi ngắm từ xa, khi nhìn tổng thể. Và tự dưng tất cả những nghĩ suy đều trở nên phổ quát, chiêm nghiệm.

Nhưng cùng với nó là cảm giác đơn độc.

Nghề phi công, nhất là phi công của Không Bưu là một nghề hết sức đơn độc. Không có ai sát cánh cùng ta ngoài những kiện hàng những lá thư câm lặng. Và bầu trời lúc đêm đen dù muôn vàn ngôi sao sáng thì cũng không có một tiếng vọng nào đến từ phía ấy. Chỉ có những cơn gió ngút ngàn lồng lộng, chỉ có những cơn bão cát , chỉ có sự sợ hãi của chính mình vây chặt lấy mình, bóp nghẹt cả trái tim .

Exupery viết về những người anh hùng bình dị, những người đã vượt qua phong ba, vượt qua bão táp và vượt qua sự sợ hãi bình thường của con người để đeo đuổi nghiệp lái máy bay. Để sống và chết trên bầu trời , như một ngôi sao vụt tắt vào sớm mai yên ả

Socrates in love - Tiếng gọi tình yêu trong lòng thế giới


Đã lỡ buồn, buồn nốt cho trọn hôm nay

Nhưng đây là một nỗi buồn đẹp, là thứ nỗi buồn đã kết tinh theo tháng năm, long lanh như là kỷ niệm. Kỷ niệm vốn đã đẹp bởi nó đã nhòa theo thời gian, nhưng kỷ niệm được khắc ghi bằng một vết thương thì nó vừa đẹp bằng cái phảng phất mơ hồ , vừa đẹp bằng tất cả các đường nét rõ ràng kiêu hãnh, nó như ở đó bên ta, lại vừa như xa xăm diệu vợi. Nó là một nỗi buồn mênh mang, vừa lộng lẫy vừa dung dị, mang cả đau đớn lẫn êm đềm

Socrates in love - Tiếng gọi tình yêu giữa lòng thế giới. Cái tựa gợi nên một âm thanh vô vọng giống như một tiếng thì thầm bị rơi vào quên lãng, nhưng nó mãi âm ỉ thổn thức hoài trong những trái tim yêu. Hơn nữa đó là những trái tim yêu của tuổi mười sáu, mười bảy khi lần đầu rung động. Một tình yêu của buổi sớm mai, rồi rơi vào một đoạn kết dang dở để sớm mai ấy vương mang những vệt nắng chiều, khắc khoải, đau đớn mãi không tìm lại được thứ hạnh phúc mới đây mình còn nắm giữ.

Như thế, Aki mãi mãi là buổi sớm mai duy nhất trong đời của Sakutaro, là giọt sương long lanh trong trái tim - kỷ niệm của cậu. Aki là tuổi mười sáu của cậu, là thế giới ngập tràn tin yêu đã có và đã mất đi, là vết thương khắc sâu theo tháng năm mà cậu không bao giờ thôi đau và thôi muốn đau. Sakutaro mang theo vết thương như mang theo Aki bên mình, trong đớn đau, tuyệt vọng, chờ đợi và trong cả niềm hạnh phúc được chìm vào trong tình yêu vô vọng, thứ hạnh phúc ngọt ngào nhắc nhớ thanh xuân đã trôi đi...

Rồi Aki cũng ra đi với gió, trên những cánh hoa đào mùa xuân khi Sakutaro biết rằng cô mãi mãi vẫn còn đó, như tuổi mười sáu mười bảy của cậu mãi mãi sống trong trái tim và kỷ niệm, trong nỗi nhớ niềm yêu. Và họ vẫn bên nhau hằng ngày, trong những khoảnh khắc đẹp tươi hằng in trong nhớ nhung, hoài niệm. Aki là một phần trái tim của Sakutaro, không bao giờ tách rời được nữa...

Cũng phải mất gần cả đời mới biết được cách cất giữ một con người vào trong trái tim :D

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

The Great Gatsby - Đại gia Gatsby

Cho dù có hơi thất vọng về cái tựa mà Trịnh Lữ đã giành cho The Great Gatsby của Fitzgerald , thì tui cũng phải công nhận đây là một bản dịch tốt, và phù hợp với tinh thần của cuốn sách. Trịnh Lữ có một lối dịch hơi hoa mỹ, áp vào thật hợp với bầu không khí hào nhoáng, thế giới phù hoa mà Frizgerald tạo dựng nên. Một bầu không khí Mỹ, một giấc mơ Mỹ và một kết thúc kiểu Mỹ, Fritzgerald cũng vĩ đại như chính Gatsby vậy.
Như một biểu tượng của giấc mơ Mỹ những năm 20 của thế kỷ trước, Gatsby là đại diện cho một lớp người từ tay trắng làm nên sự nghiệp, đổi đời trong một cái chớp mắt. Gatsby vượt qua lằn ranh giới giữa nghèo hèn và xa hoa lộng lẫy chỉ trong một đêm, để lại sau lưng một khoảng mênh mông đen ngòm về thân thế và bí mật đời tư cũng như cách thức làm giàu. Người đàn ông giàu có bí ẩn mang một tình yêu vô vọng , nó gần như là hình ảnh của bá tước Monte Cristo , cổ điển một cách gợi cảm kèm theo một tinh thần xa xỉ rất thời đại. Gatsby chính là giấc mơ ngọt ngào mà biết bao nhiêu người của thời ấy ấp ủ.


Nhưng thế giới phù hoa ấy không hề cho không ai một cái gì. Để vươn tới tột đỉnh vinh quang, Gatsby đã gần như hiến sinh cuộc đời mình cho thế giới ấy. Cơn lốc phù phiếm và những buổi tiệc thâu đêm suốt sáng nghiền cuộc đời Gatsby trong bánh xe lộng lẫy của nó, bằng ảo vọng, bằng ngọt ngào, bằng rực rỡ để rồi cuối cùng tan đi trong một tích tắc mỏng nhẹ như tiếng vỡ của bong bóng xà phòng. Cả một bệ đỡ và hệ thống hùng hậu đằng sau giải tán nhanh còn hơn diễn viên của đoàn kịch đêm bế mạc. Chỉ còn lại Gatsby hiện nguyên hình là một nạn nhân không ai đoái thương của một thời đại phù du chất đầy những cái nhìn ruồng rẫy. 

Nhưng chỉ như thế thôi thì Gasby đâu có vĩ đại. Như một con thiêu thân hiến sinh cho ngọn lửa, Gatsby cũng lao đầu vào thế giới phù hoa đó bằng tất cả lòng tin và trái tim mình. Để rồi, dù là một con thiêu thân, thì ở Gatsby vẫn tồn tại một phẩm chất anh hùng không bao giờ bỏ cuộc, dám chiến đấu tới giây phút cuối cùng cho một ảo mộng, cho một tình yêu vốn đã tắt lịm đâu đó buổi ban sơ. Gatsby dù dâng hiến đời mình cho thế giới phù phiếm , nhưng vẫn không giống những kẻ trong thế giới ấy. Gatsby vẫn giữ được cho mình tâm hồn ngây thơ và lòng tin mãnh liệt vào tình yêu. Đó là điều khiến Gatsby trở nên vĩ đại, cái vĩ đại điên cuồng, đáng thương, đáng ngưỡng mộ.

Thật ra thế giới phù hoa ấy không có gì đáng chê trách hay phê phán. Nó ở đó có lý do mà lịch sử đã chỉ ra. Ngọn lửa tuy tàn nhẫn nhưng vẫn có vẻ đẹp của nó, Daisy tuy hời hợt phù phiếm nhưng vẫn mang nét quyến rũ của sự phù phiếm hời hợt. Chỉ có điều Gatsby và những người đã mơ giấc mơ ấy không nhìn ra bản chất của thứ họ đang lao vào, không nhận ra sau vẻ đẹp lộng lẫy là tất cả những bất trắc , tráo trở của cuộc đời. Cái chết của con thiêu thân, xét cho cùng là lỗi của nó hay ngọn lửa? Chúng ta không biết được đâu

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

Cuộc sống ở trước mặt

Cuộc sống, nó không phải là thứ dành cho tất cả mọi người. Momo đã rút ra kết luận như thế. Nhưng cuộc sống vẫn dành cho cậu, vẫn dí trước mặt cậu cái bản mặt thê thảm của nó, mà dù muốn, dù không cậu cũng phải đối diện, phải nếm trải bằng tất cả các giác quan. Vì Momo vẫn phải sống.

Những khi tôi cảm thấy đời mình ngập tràn bế tắc, tôi hay nghĩ về Momo, cậu bé Ả Rập lớn lên trong vòng tay một người đàn bà Do Thái đã giải nghệ làm gái đứng đường, về những gì mà cuộc sống dành cho cậu, để thấy rằng, mình thật là may mắn vì không có những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, những thứ đủ sức biến cuộc đời họ thành vũng lầy nhớp nháp mắc míu và đớn đau, như nỗi ám ảnh không bao giờ rũ bỏ nổi.

Trong vũng lầy của cuộc sống, một tình yêu bám rễ như một lý do níu kéo sự tha thiết với cuộc đời. Tình yêu kỳ lạ không thể gọi tên, không giống như tình ruột rà máu mủ, không thuần túy là mối tình giữa đàn ông và đàn bà, dù ở đây ta cũng có một người đàn ông - Momo, mười tuổi (thật ra là đã mười bốn) và một người đàn bà - Madame Rosa, gần bảy mươi. Thứ tình yêu rung động như cổ tích, có thể biến một bà già bủng beo nặng gần một tạ trở thành người phụ nữ đẹp dịu dàng trong trái tim Momo. Người đàn bà Do Thái mang nhiều vết thương và sự ám ảnh, nhiều phong ba vùi dập của cuộc đời. Madame Rosa đã cưu mang một đứa bé mồ côi như Momo, vì miếng cơm manh áo, nhưng rồi đã giữ cậu lại bên mình như một đốm lửa nhỏ sưởi ấm trái tim đơn độc giữa biển đời thê lương của mình. Người đàn bà đã ôm ấp cậu, vỗ về an ủi và chùi đít cho Momo trong những ngày tháng bơ vơ từ thuở còn thơ cho đến ngày cậu lớn. Tình yêu giữa họ lớn hơn cả tình mẫu tử thông thường, nó đến từ hai trái tìm thèm khát tình yêu tới thắt lòng thắt ruột và đơn côi tới rạn nứt cả trái tim. Cuộc sống không cho Momo tình thương và lòng tin, chỉ cho cậu duy nhất một người đàn bà nặng gần một tạ để neo cậu lại với cuộc sống, người đàn bà mà nguy cơ rời bỏ cậu ra đi càng ngày càng gần kề.


-    Ông Hamil ơi, người ta có thể sống mà không có tình yêu được không?

-    Có.

Momo bật khóc. Cậu biết rằng mình sẽ vẫn phải sống ngay cả khi tình yêu duy nhất của đời mình ra đi. Dù Momo có đổ hàng tấn nước hoa lên người Madame Rosa, nhưng cuối cùng bà vẫn bỏ cậu mà đi bằng cái mùi của tử thi đã hoại. Và bởi thế, cuộc sống này có vị gì đâu. Nó vẫn thản nhiên đi qua bằng gương mặt đanh đanh vô cảm của nó, cùng những đớn đau đã chai sạn trong tâm hồn già cỗi của một đứa bé lên mười- à không, mười bốn chứ. Cuộc sống, dù nó có cứa biết bao nhiêu vết lên Momo, nó vẫn luôn ở trước mặt cậu, nó chẳng thể ở đâu đó khác, nó còn biết ở đâu nữa bây giờ?

Romain Gary luôn khiến tôi cười, mặc dù biết là bi kịch lắm rồi đấy. Ông khiến tôi lạc quan với chút dí dỏm của mình, dù cười đấy mà ruột thắt biết bao nhiêu bận. Nhưng cái cách ông kiên trì cười vào nỗi thống khổ nó khẳng định rằng rồi ông sẽ thắng, kiểu gì rồi ông cũng sẽ thắng. Không biết đây có phải là một liệu pháp tinh thần không, nhưng biết đâu khi ta cười, thì thế gian sẽ cười đáp lại. Biết đâu cuộc sống đen thủi đen thui của Momo sẽ sang sủa lên, dẫu là tôi cũng chẳng biết đào bới niềm hy vọng ấy ở đâu cho đến dòng chữ cuối. Nhưng ôi dào, rồi thì đời sẽ qua. Thật ra thì những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, nó chẳng thể nào tệ hơn được nữa.


Bạn có khóc khi đọc cuốn này không? Tôi không khóc. Nhưng đau đớn. Không phải ai cũng khiến người ta đau đớn thế khi mặt mũi tỉnh queo. Bởi thế tôi tin là Gary là một trong những cây bút thiên tài. Tiếc là ông chẳng còn trên đời nữa.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Istanbul - Hồi ức và thành phố

                                     
Rất nhiều người yêu thành phố nơi mình sống, nhưng không có nhiều người hiểu về nó, và càng ít người muốn tìm hiểu về nó. Tình yêu ấy với họ đơn giản chỉ là sự tận hưởng chung chung về màu sắc, hương vị đặc trưng của cuộc sống ở đấy, có kỷ niệm, có nhớ nhung nhưng tựu chung rồi nó sẽ cuốn theo năm tháng phai tàn. Khi tôi đọc cuốn sách này, tôi quá ngạc nhiên về tình cảm của Orhan Pamuk dành cho thành phố Istanbul nơi ông sống, tình yêu nào khiến người ta lặn lội ngược dòng quá khứ chỉ để đào bới những vết thương, rồi suốt đời ôm ấp vào lòng như một phần sinh mệnh?

Istanbul, thành phố nằm bên bờ vịnh Bosphorus, một thời là thủ phủ của đế chế Ottoman hùng mạnh với những vết tích hoang phế rải dọc bờ. Những con phà tỏa khói xám bàng bạc trong nỗi buồn bao phủ lên tâm tưởng và số phận người Thổ. Giữa những dấu vết nhắc nhớ về một quá khứ vàng son, giữa nỗi mặc cảm chênh vênh neo mình giữa hai bờ Đông - Tây của hiện tại, người Thổ tự phủ lên cuộc đời mình một tấm màn mỏng mềm mại âm u để che mờ sự hiển hiện, gọi là huzun. Huzun trong tiếng Thổ gọi là nỗi u sầu, sự u sầu len lén vào tim để đau đớn trong sự mềm mại của nó. Không có gì diễn tả được tâm trạng người Thổ hơn từ ấy, nỗi sầu khổ khi bị xa lìa, sự mất mát, sự hoang mang... Và tất cả, phủ lên Istanbul vốn đã bàng bạc màu khói xám một tấm sương mờ, như một viễn tượng hội họa.

Chính vì thế mà Instanbul đẹp, đẹp bằng những nỗi buồn ghi dấu trên những ngọn tháp cao, những ngọn cây đổ bóng dài trong ánh chập choạng hoàng hôn sáng- tối. Đẹp bằng những âm u chiều xuống trong những con hẻm nghèo dài chênh vênh. Orhan Pamuk thoạt tiên muốn hiểu Istanbul bằng hội họa và hình ảnh vì ông muốn trở thành họa sĩ. Ông phân tích những bức tranh vẽ từ thời đế chế, nghiên cứu những bức ảnh đen trắng với đôi mắt của một người phương Tây, chăm chú, tỉ mỉ và cuối cùng, như một bác sĩ, ông tìm ra vết thương của thành phố. Vết thương sâu hoắm u ám tận cõi lòng mà không ai nhận ra vì nó đã là một phần trong cuộc đời người Thổ. Và thế rồi Orhan, ông trở thành một nhà văn.

Với tôi, làm nhà văn nghĩa là thừa nhận những vết thương bí mật mà chúng ta mang trong nội thể mình, những vết thương bí mật đến nỗi chính ta chẳng mấy khi biết, và nhẫn nại tìm hiểu chúng, khám phá chúng, soi rọi chúng, để làm chủ những nỗi đau và vết thương đó, biến chúng thành một phần hữu thức của tinh thần ta, tác phẩm của ta.


Có những chương trong cuốn sách này được miêu tả rất đẹp, đẹp tới đau lòng. Đẹp trong từng câu chữ đơn giản, trong từng bức ảnh đen trắng minh họa. Và Istanbul hiện lên với những tòa tháp cao bơ vơ trên nền trời hiu quạnh, những cánh hải âu bay xao xác bờ vịnh, tiếng còi tàu dài rền vang quay quắt điệu u buồn. Những làn khói bay trên nóc những chuyến phà, những bóng người lầm lũi kéo hoàng hôn về phủ lên thành phố. Và huzun tuy bàng bạc như sương nhưng đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài trong những trang sách, với những đêm mất ngủ nằm chờ những chuyến tàu qua vịnh như những thói quen, những đốm lửa xa xa hay những trận pháo lửa sáng trời khi những chuyến tàu chở dầu đâm vào nhau ngoài khơi. Bosphorus không chỉ chứa những chuyến phà, nó còn chất chứa những đôi mắt đăm đăm trong đêm nhìn ra bờ vịnh - cửa ngõ Đông-Tây của thành phố. Những đôi mắt hoang mang, u sầu và bất lực.

Thông qua đời mình, Orhan Pamuk đi tìm Istanbul, với những câu chuyện, những biên niên sử và cả những hồi ức đã bị lãng quên, những vết thương dấu kín. Cậu bé Orhan Pamuk đã yêu Istanbul và vịnh Bosphorus vì những tháng năm hạnh phúc của cuộc đời được sống và rong chơi, được chìm trong những truyền thuyết về đế chế Ottoman, ly kỳ và diệu vợi. Orhan đã bắt đầu yêu Istanbul bằng cái vẻ đẹp lộng lẫy ngọt ngào của nó, để rồi mãi hoài trên hành trình yêu thương đó, càng ngày càng nhận ra những đau đớn đằng sau, những vết cháy, những trận bão tuyết cuồng phong, những lỗ trống bơ vơ trong trái tim thành phố. Nhưng Orhan không bỏ đi, không chạy trốn nó, như một số trí thức nước Thổ đã tìm được ra khỏi đất nước để đến với phương Tây. Ông ở lại, để cái nỗi buồn của nó, vết thương của nó trở thành một phần của đời mình. Với Orhan, Istanbul thật sự là tình yêu, tình thương và sự lựa chọn của tuổi trưởng thành, hoàn toàn không ảo vọng.


Tại sao người ta có thể yêu thành phố nơi mình sống đến thế?

Câu hỏi này cứ lớn dần lên theo từng, từng trang sách để đến cuối cùng, khi gấp sách lại, tôi thấy mình ngập chìm trong hỗn mang cảm giác mà tác giả đem đến : yêu thương, bất lực, tuyệt vọng, bơ vơ... Istanbul như người mẹ đã qua thời son trẻ, chỉ còn lại những tồi tàn mà tháng năm chồng chất với những hoang phế u buồn và nỗi ám ảnh vàng son. Và Orhan Pamuk đã yêu thành phố ông sống trọn đời mình, như đứa con yêu mẹ bằng trường kỳ tình yêu từ ngày mới chớm đến tuổi bạc đầu. Ông đã yêu người mẹ ông chưa từng rời xa trong đời bằng tình yêu rưng rưng trìu mến lẫn đắng cay nhưng trên hết là thấu hiểu, như hiểu nguyên nhân từng vết nhăn nheo trên trán mẹ mình. Một tình yêu đáng để vinh danh và ngưỡng mộ. Một cuốn sách xứng đáng là kiệt tác.

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

Ruồi trâu

Tôi xếp Ruồi Trâu vào dạng tiểu thuyết tình cảm lãng mạn, cho dù người ta có nhắc tới nó như một cuốn sách về lý tưởng cách mạng, về tinh thần chiến đấu hay một số thứ tương tự. Người ta chỉ thấy cái mà mình muốn thấy, có lẽ thế.

Nói về tình yêu trong cuốn sách này, tôi thấy thú vị vì nó không đi vào tình yêu đôi lứa thuần túy. Tình yêu đôi lứa bị lép về bởi một thứ tình cảm còn mãnh liệt và thời sự (2012) hơn thế : đó là sự ngưỡng mộ tới sùng bái tới cực đoan. Điều này, không chỉ riêng cha Montanelli mới có.

Athur cũng vậy, tình yêu của anh dành cho cha Montanelli chẳng khác gì tình yêu của Montanelli dành cho Chúa. Trong mắt Athur, ông hoàn toàn là một vị cha xứ trong sạch, liêm khiết với trái tim độ lượng và sự uyên bác sáng ngời. Tình yêu đó, không nhuốm chút nghi ngờ, chút trần tục, chút bụi bặm, nên tình yêu đó không kìm nổi mình mà bước qua giới hạn của tình yêu để biến thành nỗi oán hờn, căm phẫn chỉ vì một vết nhơ trên mình của tượng đài mà mình trót xây dựng. Athur trở thành Rivares sau nhiều năm lưu lạc, với vô số vết thương trên da và trong trái tim để trở thành một nhân vật sắc sảo độc địa, biết nói những lời cứa thẳng vào tim người khác để rồi sau đó tim mình cũng te tua chẳng kém gì. Rivares, mãi mãi vẫn là Athur, cũng như nỗi hờn căm của Rivares, vẫn cứ là một tình yêu mãnh liệt.

Montanelli và Athur, họ giống nhau, vì họ là cha con ruột. Họ giống nhau nên đến phút cuối cùng họ không từ bỏ nổi bức tượng thánh của mình. Họ yêu thương nhau mà không nhận ra mình giống nhau để tha thứ cho nhau và tha cho cả trái tim tan nát của mình. Đến phút cuối cùng, cả hai vẫn để cho lý trí mình giành phần thắng, cho phép nó dẫm lên trái tim mình một cách hiên ngang. Để sống với lý tưởng, người ta phải tàn nhẫn với bản thân mình.

Rivares là một chiến sĩ cách mạng. Ừ thì cứ cho là thế. Một chiến sĩ cách mạng sống với lý tưởng hoài bão mạnh mẽ đến mức không cho phép trái tim vô ý đặt lên đầu. Thôi thì trái tim cứ đặt nguyên chỗ của nó,  trong một tâm hồn đầy thương tổn của một con người yếu đuối tên Athur.

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

Hội hè miên man

Cuốn sách này không có cốt truyện. Nó chỉ là nỗi nhớ miên man của Ernest Hemingway về những năm tháng thanh xuân ở Paris. Mà tuổi thanh xuân thường là những ký ức đeo bám trí nhớ người ta dai dẳng nhất, còn Paris thì chưa có ý định cho ai cơ hội để lãng quên về nó nếu đã đến đây.

Tôi chưa từng thích Hemingway. Tôi không thích cách ông viết những câu ngắn theo kiểu đơn giản hết mức có thể, cách ông tường thuật những đoạn đối thoại với những câu gạch đầu dòng rồi không thêm bớt và miễn bình luận về nó. Nói chung thì tôi không thích cảm giác bị rơi vào trong một cuốn phim tài liệu, hay một cái gì đó đại loại thế. Nhưng Hội Hè Miên Man là một cuốn phim tài liệu nồng nàng cảm xúc, cho dù vẫn là Hemingway với văn phong ngắn gọn không đoái hoài gì đến biểu cảm. Nhưng cần gì, nó đang kể về những năm tháng ở một nơi mà chữ nghĩa nhiều chỉ tổ đánh lạc hướng cảm xúc của người đọc. Và lần đầu tiên tôi thấy thích vô cùng sự ngắn gọn đầy khí chất ấy.

Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong tuổi thanh xuân thì dù có đi đâu trong suốt đường đời còn lại, Paris vẫn ở trong bạn, bởi Paris là một cuộc hội hè miên man.

Paris là một cuộc hội hè miên man, và thanh xuân của chúng ta cũng là một cuộc hội hè còn miên man hơn thế. Tuổi hai mươi của Hemingway tràn trề cảm hứng và nhu cầu được viết, còn Paris thì luôn có đủ chỗ cho bất cứ ai muốn sáng tạo, dù kẻ đó giàu sang hay nghèo kiết xác, mạnh khỏe tươi mới hay đã tàn tạ theo tháng năm. Paris có đủ bầu không khí rực rỡ lẫn u hoài, có những chốn từng bừng và những góc khuất lặng lẽ. Paris cho ta cảm giác về nỗi tràn trề lẫn niềm mất mát cũng như đủ sức nâng sự thiếu thốn lên tầm thơ mộng rồi hạ bệ sự đủ đầy xuống vực của chán ngán. Paris luôn là Paris, chỉ có người ta dường như là khác hơn khi đến đó.

Paris, nơi tề tựu của hầu hết những gương mặt nghệ sĩ sáng giá của nền nghệ thuật đương đại, nơi tôn vinh của những sự sáng tạo đầy ngông cuồng. Paris cho Hemingway cơ hội nhìn thấy cái đẹp của sự ngông cuồng ấy và cả cái giá phải trả cho nó. Tôi thích cách Hemingway kể chuyện mà không chút phán xét hay đánh giá gì. Có một chút tò mò của tuổi hai mươi, nhưng rồi ông chấp nhận nó ngay không ngần ngại. Bạn sẽ gặp rất nhiều nghệ sĩ tiên phong của thế kỷ 20 ở Paris, ngạo nghễ, buồn rầu, say mê, đau đớn. Bạn sẽ thấy họ qua đôi mắt của chính mình chứ không phải của Hemingway để rồi gấp cuốn sách lại, bạn sẽ thấy Hemingway, đầy hào sảng và tự tin đón nhận mọi sự khác biệt, một sự phóng khoáng rất điển hình mà có lần ông đã tự nhận xét về mình : "Tôi không phải là người Mỹ, tôi là nước Mỹ".

Hemingway chưa bao giờ bỏ quên chất Mỹ của mình, dù đó là ở Paris cũng như Paris không hề biến thành một nơi chốn khác qua cái nhìn của một người Mỹ.  Hemingway đã trải qua tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết ở đó, với tình yêu đằm thắm dành cho người vợ Hadley và ông con trai mũm mĩm Mr Bubby, đã sống những ngày đầy phấn khích với trò đua ngựa, đã ngắm nhìn những kiệt tác nghệ thuật với cái dạ dày trống rỗng, đã viết với tất cả lòng say mê. Hemingway đã thấy Paris, thấy tận tâm khảm nó, đã thấy ánh sáng rực rỡ của nó cũng như bóng tối phía sau ánh hào quang. Paris không thôi khiến người ta đam mê cũng như tuổi thanh xuân mãi mãi không thôi khiến người ta tiếc nhớ. Đó là một thời thật nghèo, mà hạnh phúc.

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Nam tước trên cây

Với cái tựa đề này, cùng với câu chuyện này, thoạt đầu tôi ngỡ là mình vừa xí được một vé đi tuổi thơ, tuổi thơ của một đứa con nít thích chuyện phiêu lưu viễn tưởng với thanh kiếm rạng ngời giắt bên hông, của những trưa nắng đòng đưa trên cây mơ mộng. Nhưng rồi đọc xong mới biết cái vé đó nó không đưa tôi đi về tuổi thơ, nó đã đưa tôi đi nơi khác.

Nơi khác đó là cõi nhân gian xanh mướt của Cosimo MưaGiông, nam tước của xứ BóngRâm, một thiên đường êm đềm mà rộn rã, gần kề mà cách biệt với đám đông, nơi những nhánh cây vươn mình một cách hữu hạn không ngăn nổi những chuyến phiêu lưu vô tận và niềm đam mê cuồng nhiệt của anh chàng nam tước. Nơi mà giấc mơ tuổi thơ đã được đẩy xa hơn một cách liều lĩnh, ngang tàng và kiêu ngạo. Khi tất cả chúng ta hồi còn là một đứa trẻ chỉ dám đứng dưới gốc cây và ước thì Cosimo đã thực hiện nó, đơn giản, dứt khoát với một lý do nhỏ bé như một cú hích nhẹ. Cosimo, trong một lần phản đối bữa ăn ốc sên của bà chị u sầu, đã trèo lên cây rồi không bao giờ xuống đất trở lại.

Khi giấc mơ tuổi thơ bị đẩy đi quá xa, nó không còn giành cho tuổi thơ nữa. Nó giành cho những người lớn đã chán ngán với đám đông ồn ã, a dua và uể oải trôi trong những định kiến xã hội. Nó là khát khao muốn tìm một chốn riêng tư, tách biệt nhưng không xa lánh thế gian, một nơi như Cosimo đang ở, êm đềm bay bổng phiêu lưu và cũng gần gũi cuộc sống. Hành động trèo lên cây của Cosimo ví như một cú tung mình lên khoảng không bao la để rơi vào một cõi chiêm nghiệm đầy ẩn dật, hay ngược lại, cũng có thể xem như một sự náu mình vào trong một thế giới ngút ngàn vô tận. Với những mâu thuẫn đó, cuộc sống trên cây của Cosimo trở nên huyền ảo với những không gian đóng mở không giới hạn, những cuộc phiêu lưu không bờ bến với những cuộc tình đầy chất thơ. Cosimo tự do với thế giới nhưng vẫn là một thành phần thuộc về thế giới. Tự do nhưng không hề lạc lõng.

Cosimo tạo lập cho mình cuộc sống ở trên cây, đầy đủ tiện nghi như dưới mặt đất và cũng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn của mình như đang ở dưới mặt đất. Cosimo học hành, ăn uống, tham gia nghị luận, như một nam tước bình thường. Và yêu đương như một kẻ si tình bình thường (rồi thất tình như một gã bình thường). Điều bất thường duy nhất chính là khoảng cách với đám đông mà Cosimo đã duy trì cho đến hết đời. Khoảng cách đó tạo ra vô vàn cái nhìn mới mẻ lạ lẫm, những khám phá và trãi nghiệm thú vị mà bất cứ ai thuộc về đám đông đều không có được. Trên những ngọn cây cao, xã hội phía dưới thu nhỏ lại trong một tổng thể bất an nhưng đầy trật tự rồi không ngừng thay đổi theo những cú tung mình của Cosimo. Tất cả đều được Cosimo ghi chép lại, nghiền ngẫm nhưng một kẻ luôn ưu tư về xã hội. Cuộc sống của Cosimo, tuyệt đối tự do nhưng vẫn tràn đầy trách nhiệm. 

Hành trình khám phá thế giới trên những ngọn cây của Cosimo càng ngày càng mở rộng với những không gian đầy mê hoặc và dịu ngọt, lấp lánh những ánh sáng huyền bí của câu chuyện cổ tích hoang đường. Calvino để cho nhân vật của mình tung hoành trong tuổi thanh xuân tràn trề , không giới hạn giấc mơ và khát vọng, không giới hạn tình yêu và khổ đau để rồi khi tất cả qua đi, trên đỉnh cao của sự tự do, Cosimo nhận ra mình ngập chìm trong một nỗi cô đơn đặc quánh. Không có gì có được mà không phải đánh đổi, và cái giá của tự do chính là nỗi cô đơn. Những năm tháng về già, ngả bệnh, Cosimo đã chọn cây hồ đào giữa quảng trường để nằm nghỉ, như một cách tìm về với đám đông, được hòa mình giữa đám đông để quên đi sự đơn độc. Cosimo không sống chung với mọi người, nhưng chưa bao giờ rời khỏi ánh mắt mọi người, như một thứ mà tác giả của cuốn sách này gọi là "một tồn tại trong suốt gieo neo", một sự hiện hữu chắc chắn nhưng không thể định vị. Cosimo là một thành phần không thể nắm bắt của cuộc sống, cho đến ngày tan biến vào cõi hư không.

"Nam tước trên cây" phảng phất một nỗi hoài niệm tuổi thơ, nhưng nó không dắt ta về tuổi thơ mà khiến ta đắm chìm trong một chiêm nghiệm về những ước vọng của cuộc sống. Cosimo là một nhân vật được hư cấu nên để phản ánh cái khát khao ngắm nhìn trọn vẹn thế giới mà vẫn ở trong thế giới, khát khao được riêng tư mà không cô đơn, được tách biệt mà không lạc lõng. Cosimo tạo lập một phong cách sống hòa nhập nhưng đầy cá biệt, một cái tôi lẻ loi nhưng không bị đám đông khước từ. Cuốn sách là một cuộc phiêu lưu trong tâm tưởng của những kẻ đi tìm tự do, đi tìm sự thanh thản nhẹ nhõm tuyệt đối trong đời.

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

Cuộc đời của Pi


Cuộc đời của Pi khiến cho những viên ngọc vô hình tôi cóp nht đưc ở văn chương và cuộc đời va chạm nhau, khng định và chối bỏ nhau, tối đi và sáng lên bên cạnh nhau, xốn xang và trầm lắng (Dịch giả Trịnh Lữ)


Một câu chuyện hư cấu, ta biết là nó hư cấu, hoặc là ta cho rằng nó hư cấu, nhưng ta tin bởi vì ta muốn tin, cũng như ta đã bám víu lòng tin vào một đấng toàn năng chưa từng hiện hữu là Thượng Đế.


Thượng Đế là ai? Sao ta tin vào Thượng Đế? Ai đã gieo cái mầm tín ngưỡng ấy vào trong ta từ thuở bình minh để nó bám rễ mãi mãi trong tim óc cho đến tận ngày ta lìa bỏ cuộc sống? Để cuộc sống này dẫu vô vàn khó khăn, thì sự sống mãi mãi vẫn là một điều kỳ diệu như thế?

Pi- tên ngắn gọn của Piscine Molitor Patel (cái tên rắc rối xấu mù) yêu Thượng Đế, mà không chỉ là Thượng Đế của một mà là ba tôn giáo : Hindu, đạo Hồi, và đạo Thiên Chúa. Và mặc kệ việc ba tôn giáo này ngày ngày vẫn tạo ra biết bao cuộc thánh chiến, Pi vẫn tỉnh bơ ăn chay, đọc kinh và làm dấu thánh. Có gì khác biệt giữa các đấng toàn năng? Có gì khác nhau giữa những hạt mầm mà họ gieo vào tâm hồn cậu bé? Cuộc sống không phải chỉ là một ngôi đền để ta có thể giam mình trong một niềm tin hữu hạn. Cuộc sống bao la hơn nhưng cuộc sống chỉ có một nên dù ta có rất nhiều lòng tin nên lòng tin nào cuối cùng cũng giành cho cuộc sống, giành cho những phút giây ta giành giật sự sống cho mình.

Đời sống hiện đại đang tước mất dần của con người một thứ : đó là bản năng sinh tồn. Nhưng Pi có. Bài học giành giật sự sống này chính những con thú trong vườn bách thú mà gia đình cậu sở hữu đã dạy cậu bé, những con thú đã xa lìa cuộc đời hoang dã của mình để sống cuộc đời phè phỡn được người ta chăm sóc nhưng mãi mãi không nhổ được cái cội rễ bản năng tự nhiên. Cái cội rễ bám chặt vào cuộc sống để không bao giờ bỏ cuộc với một tiếng thở dài. Sự sống luôn hào phóng cho những ai chiến đấu vì nó.

Nên Pi đã sống, sau 227 ngày lênh đênh giữa đại dương, trên chiếc thuyền cứu hộ nhỏ cùng con hổ Belgan. Hiểm họa màu cam nặng mấy tạ đó lạ thay lại là một lý do để cậu bé níu kéo sự sống, để mọi cuộc chiến đấu căng thẳng một người-một hổ trở thành mục đích sống ngày qua ngày, để nỗi tuyệt vọng mênh mông của đại dương không bủa vây quanh cậu. Con hổ ở đó để Pi tin rằng, mình vẫn sống và vẫn còn muốn sống.

Cuộc đời của Pi là một câu chuyện hư cấu ly kỳ nhưng với giọng văn cực kỳ hài hước dí dỏm. Ta có thể cười cả khi chứng kiến nỗi thống khổ của số phận, sự hiểm nghèo của tình huống nên tiếng cười đó là tiếng cười hào sảng, đầy thách thức và mạnh mẽ cũng giống như ta luôn thấy cách nhìn nhận cuộc đời ở Pi tràn trề sự lạc quan. Lạc quan vốn là một cái phao giữa mênh mông bi kịch. Và ngay cả khi những dấu hiệu hiện hữu của Thượng Đế dần mất đi, cậu bé cũng không từ bỏ.

"Có nhiều người trong số chúng ta chịu bỏ cuộc chỉ với một tiếng thở dài. Những người khác chiến đấu chút đỉnh rồi mất hy vọng. Nhưng một số khác nữa, trong đó có tôi, thì không bao giờ bỏ cuộc. Chúng tôi chiến đấu và chiến đấu và chiến đấu. Chúng tôi chiến đấu bất kể giá nào, bất kể những thất bại phải chịu bất kể sự bất khả chiến thắng. Chúng tôi chiến đấu đến tận cùng. Đó không phải là vấn đề can đảm. Nó là một cái gì đó thuộc về bản chất một tình trạng không có khả năng đầu hàng. Có thể chỉ là sự ngu ngốc của lòng ham sống mà thôi"

Thượng đế có thể quay đi, nhưng lòng tin mà Thượng Đế đã gieo thì vẫn còn. Thượng Đế không cho Pi cuộc đời tưởng đã mất, tự cậu bé đấu tranh giành lại cho mình, bằng hạt giống đã nảy mầm và bản năng sống mạnh mẽ mà những số phận hoang dã trong vườn thú đã dạy cho cậu. Thượng đế im lặng trước lời thỉnh cầu, nhưng sự im lặng cũng có âm thanh, nó cần đến lòng tin về sự hiện diện để thấu hiểu và "sự giác ngộ rằng nguyên tắc nền tảng của mọi sự sinh tồn chính là thứ mà ta gọi là tình yêu"...

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

Chuyện con mèo dạy hải âu bay


Những con mèo của cảng biển Hamburg, kiêu hãnh, tự tin và ngố vật vã. Những con mèo sạch sẽ, biết nói cám ơn nhưng cũng biết xỉa chín cái vuốt ra khi cần hù mấy tên cà bông đáng ghét. Những con mèo với những cá tính khác biệt, hơi bộ tịch một cách trẻ con nhưng cực kỳ chính chắn khi đối diện với vấn đề. Nhưng đó không phải là toàn bộ khiến bạn có thể yêu chúng nó tới chết đi được.

Zorba là một con mèo mun, mập ú và ngầu. Một ngày kia trên ban công nhà nó xuất hiện một cô hải âu mình đầy váng dầu, đang thoi thóp thở. Toàn bộ sức lực của cô nàng trút vào cuộc chiến cuối cùng để cho ra đời một quả trứng, và tại giây phút ấy, Zorba đã hứa với toàn bộ danh dự và lòng kiêu hãnh của loài mèo rằng :

Không ăn quả trứng
Chăm sóc cho quả trứng cho đến ngày chim non chào đời
Dạy cho nó biết bay.

Những gì còn lại của cuốn sách là hành trình của những con mèo trên cảng Hamburg để giữ vững lời hứa của mình.

Đây không phải là một câu chuyện cổ tích. Dù bạn sẽ tìm được một kết thúc kỳ diệu đúng như mong mỏi, nhưng nó không đến từ những phép màu. Nó đến từ nỗ lực và trái tim rộng mở của những con mèo, từ lòng kiêu hãnh thủ tín và tình yêu không định kiến của những sinh vật bé nhỏ trên cảng Hamburg. Zorba và những người bạn của nó đã vượt qua cái bản năng hoang dã của loài mèo, để ôm ấp vào lòng một quả trứng và sưởi ấm cho đến ngày con hải âu bé nhỏ chào đời. Và khi đã vượt qua cái bản năng ấy, con chim bé nhỏ không còn là một món ăn béo bở nữa, nó là một đứa con gợi lên ở lũ mèo tình mẫu tử ngọt ngào, điều mà trước giờ những con mèo mới chỉ biết nhận từ chủ của mình. Zorba bảo vệ đứa con nhỏ của mình, mớm cho nó từng con ruồi mà mình bắt được, xòe đủ vuốt mình ra cho bất cứ kẻ nào có ý định nhòm ngó con chim non. Nó đã yêu thương con hải âu không phải vì lời hứa. Đó là tình yêu vô điều kiện.

Những con mèo trên cảng Hamburg sẽ dạy cho chúng ta về tình yêu, nhưng hơn thế là một tình yêu không phân biệt giống nòi, sắc chủng: "Chúng ta yêu con như yêu một con hải âu. Thật dễ dàng để yêu thương một ai đó giống mình, nhưng để yêu thương một ai đó khác mình thật sự rất khó khăn, và con đã giúp chúng ta làm được điều đó..." Zorba và bạn bè nó đã yêu con hải âu mà không hề có ý định biến nó thành một con hải âu lai mèo, không định cho nó sống cuộc đời của một con mèo, dù điều đó sẽ dễ dàng hơn với chúng. Với tất cả tình thương và sự tôn trọng một bản sắc khác biệt, chúng đã thực hiện lời hứa cuối cùng : dạy cho con hải âu bay.

Bay. Nghĩa là trả con hải âu về với bầu trời của nó. Mỗi một sinh vật có một thế giới của riêng mình và quan trọng nhất là làm chủ thế giới ấy. Zorba không yêu một cách ích kỷ, không giữ con chim như một niềm vui riêng, nó trả lại đôi cánh và bầu trời, trả lại bản năng sống mà hải âu vốn có. Khoảng cách giữa mặt đất và bầu trời là thăm thẳm, nhưng tình yêu giữa những con mèo và con hải âu dường như chẳng còn chỗ cho khoảng cách chen chân. Những cuộc đời rất độc lập nhưng đó là sự độc lập được nối bởi những sợi dây tình yêu không thể chia lìa.

"Chỉ những kẻ nào dám mới có thể bay" Câu kết của cuốn sách rất mạnh mẽ bởi chỉ những ai mạnh mẽ mới làm chủ được cuộc đời mình. Hải âu Lucky đã có thể bay, không phải chỉ vì từ "bay" nằm trong máu của nó mà còn bởi nó có được sự can đảm được truyền từ những người mẹ đã cưu mang nó suốt thời gian dài. Dám bay sẽ được bay, cũng như những con mèo dám vượt qua bản năng của mình để yêu. Không có gì là không thể, miễn là bạn cho mình một cơ hội để dấn thân, để nắm giữ đời mình. Bài học đó không chỉ dành cho hải âu Lucky, nó dành cho những người đã đọc cuốn sách này, và chắc là phần lớn đã không còn là thiếu nhi nữa. Vậy mà nó vẫn cứ là một bài học không bao giờ là cũ.

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

Alexis Zorba, con người hoan lạc



Hy Lạp, đất nước của những vị thần tung cánh trên bầu trời, sống cuộc đời nửa thần tiên nửa trần thế, nơi có một người đàn ông tên là Alexis Zorba không có cánh và phép màu, hoang sơ và thô ráp như sinh ra từ mặt đất, ngửa mặt lên bầu trời cười nhạo những triết lý của những kẻ đang vỗ cánh tạo nên. Lão không cần đôi cánh, không cần phép thuật nhưng đã sống một cuộc đời đầy thống khoái và tự do như những cánh chim dang rộng trên miền đất của niềm vui và hoan lạc.

Alexis Zorba, một gã làm công người Hy Lạp, trong một dịp tình cờ đã gặp ông chủ của mình trên đường đến Crete khai thác than. Cuộc gặp gỡ đã khiến cho ông chủ của gã, một kẻ vùi mình trong sách vở tìm quên muộn sầu sửng sốt nhận ra đâu là ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Người đàn ông trẻ tuổi nhưng đầy bế tắc ngập chìm trong triết lý Phật giáo để tìm sự giải thoát, nhưng rốt cuộc càng lún sâu hơn trong nỗi cô đơn tuyệt vọng của chính mình. Đúng lúc đó thì Zorba xuất hiện, cười tiếng cười khinh khoái đầy bản năng, hát với âm thanh rộng mở của cuống họng và nhảy với toàn bộ ngôn ngữ của cơ thể. Với Zorba, cuộc đời là một chuỗi những đam mê, tận hưởng cả những lạc thú êm đềm lẫn nỗi buồn bỏng cháy. Ngọn lửa trong trái tim cuồng nhiệt của Zorba đầy năng lượng, truyền qua cho ông chủ, người đàn ông yếu đuối không thiết tha đến hiện thực, không màng đến thăng trầm của thế gian. Năng lượng sống của Zorba đốt cháy kinh kệ, đốt cả khoảng trống bơ vơ trong trái tim ông chủ. Họ trở thành một cặp bài trùng trong sự gắn kết đầy mâu thuẫn.

Sau cuộc gặp gỡ với Zorba, văn chương sách vở chỉ còn là những đầm lầy đặc quánh không lối thoát, không ánh sáng. Zorba không phỉ nhổ sách vở chữ nghĩa, nhưng những câu hỏi lão đưa ra khiến sách vở chữ nghĩa trở nên tuyệt vọng để trở thành một đống nhì nhằng vô tích sự. Cuộc đời không chỉ mô tả và tận hưởng bằng miệng, cũng như hạnh phúc hay đau khổ không phải chỉ thoát ra từ ngòi bút. Ông chủ của gã nghiền nỗi lòng qua những ngón tay, bằng tiếng sột soạt trên giấy, nhưng Zorba thì khác. Gã vận dụng tất cả các giác quan, bằng những điệu nhảy bất chấp quy luật, miễn là giải phóng được nỗi thống khoái đang ngập tràn tâm hồn, miễn là bay bổng và quay cuồng với niềm vui thực tại. Triết lý sống của Zorba đơn giản chỉ là sống hết mình cho từng khoảnh khắc với toàn bộ nhiệt huyết và đam mê. Zorba không bận lòng, không suy tính, không cân nhắc. Zorba chỉ sống và sống, với trái tim đầy lửa.

Cuộc đời Zorba là một cánh đồng miên man hoan lạc, ký ức của Zorba là những ngày hạnh phúc khôn cùng với âm thanh của cây đàn santuri, với nhan sắc của những người đàn bà thanh xuân đã lần lượt đi qua trong đời, với những chiến công, những lần tìm ra vỉa quặng. Gã đàn ông xấu xí, khô quắt khô queo nhưng đầy sức quyến rũ. Sự quyến rũ của gã chính là sự dâng tặng trọn vẹn không đắn đo với bất cứ những gì gã muốn dâng tặng, với mỗi khoảnh khắc chỉ có duy nhất một thứ gã để tâm. Sự dâng hiến trọn vẹn còn hơn cả những lời ca tụng có cánh, nó khiến mọi thứ gã nhận được trong đời đều mang giá trị cao nhất mà nó từng có. Sự cho đi nồng nhiệt khiến gã nhận được sự đáp trả nồng nhiệt. Cuộc đời Zorba giàu có vì Zorba đánh đổi bằng ngọn lửa trái tim và thể xác, bằng sự hân hoan đón nhận cuộc đời.

Hai nhân vật được phác thảo trong cuộc sách rất mâu thuẫn nhưng đều ghi nhận giá trị đích thực của cuộc sống, rằng sống là sống chứ không phải bất cứ một hành động nào khác. Ông chủ trí thức biết rằng mình đang ở trong cõi suy ngẫm và triết lý chứ không phải là sống, nên cuộc đời của một người không sống rất cằn cỗi và buồn tẻ. Zorba không suy nghĩ, không cân nhắc và cóc cần tới những luật lệ thế gian, Zorba chỉ sống và sống trung thành với bản năng làm người, được hạnh phúc được đau buồn và cuối cùng được chết trong tiếng thét từ giã cuộc đời đầy sảng khoái. Kinh Phật hướng con người từ bỏ cuộc sống để tìm đến sự giải thoát tự do, nhưng Zorba vẫn tự do khi đang tận hưởng cuộc sống, bởi vì Zorba đã sống với chính bản chất của cuộc sống, bởi vì được sống nghĩa là được tự do.

Cuốn sách ca ngợi Zorba, nhưng hơn thế, nó ca ngợi cuộc sống với toàn bộ bản chất của cuộc sống. Sống là hạnh phúc, là khổ đau, là đồng bằng rực rỡ, là đầm lầy ảm đạm. Sống là dũng cảm băng lên phía trước và ngạo nghễ trên hành trình. Sống là cho trái tim một đôi cánh, một ngọn lửa và một tâm trí vô ưu để dâng tặng trọn vẹn đôi cánh và ngọn lửa của mình cho cuộc sống