Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Cưỡng cơn gió bấc

Người ta gọi đây là một thế giới ảo. Nơi tôi đang viết những dòng chữ này, nơi những con chữ rơi ra khỏi ngón tay tôi, gieo xuống bàn phím những tiếng kêu lách cách, chạy qua rất nhiều sợi dây mạch điện chằng chịt để rơi vào một khoảng mênh mông của tâm trí. Cái gì ảo? Dòng chữ của tôi? Tâm trạng của tôi, những điều tôi kể, cả những điều tôi không kể? Những khoảnh khắc trong cuộc đời hữu hạn này, khi ta gói ghém chúng và ném lên đây, để rồi người ta gọi nó là ảo. Thật đáng dỗi hờn.


Nhưng thôi được, nếu bạn gọi nó là ảo, thì cuốn sách này đang kể về một câu chuyện tình yêu ảo. Một cơn say tình mãnh liệt nhất tôi từng biết, với trùng điệp tâm trạng khi yêu vỗ bờ email qua những dòng chữ và những khoảng trắng, qua những lời hồi đáp dài miệt mài lẫn những câu trả lời cụt lủn lẫn cả những lần im lặng. Tôi cảm nhận được tình yêu của họ, nỗi khát khao có nhau của họ tới từng chân tóc của mình. Nếu ta còn gọi đây là ảo, thì tôi biết gọi những cảm xúc của mình là gì bây giờ.

Có điều tôi biết, nó cũng không phải là thật, vì nó không phải là toàn bộ sự thật. Nếu người ta chỉ có thể sống hoàn toàn với hiện thực, sẽ không có một dòng sông nào để cho những chuyến xà lan cảm xúc chất đầy tới nóc xuôi ngược hai bờ, và cũng chẳng có bến bờ nào để neo đậu. Đó là một thế giới mà người ta đã cắt một phần sự thật cua đời mình ném vào giữa bốn bề sương mờ giăng phủ, để chỉ có thể sống với duy nhất phần sự thật mà mình muốn sống cùng, chỉ có thể sống trọn vẹn nhất với những nỗi niềm riêng tư nhất. Ở đó, bạn nên biết rằng con đường của tình yêu sẽ rất thuần khiết, nghĩa là đi thẳng từ tâm hồn này sang tâm hồn khác, không vòng vo, không choáng ngợp hay bốc đồng. Như là một dòng sông chảy giữa đôi bờ, chỉ biết đến đôi bờ mà không hề vướng bận.

Lý tưởng là như thế. Đó là lý do tại sao cả Emmi và Leo đã không thể rút chân ra khỏi thế giới bàng bạc mộng tưởng của họ ngay cả khi họ nhận ra rồi tình yêu này chẳng thể dẫn đến đâu. Thế giới đầy ma lực và cảm xúc của hai con người quá đỗi thông minh dí dỏm tới mức đều tự nhận mình là phi tiếu lâm, thế giới của hai rung động cùng tần số, thế giới ấy không có hồi kết, như dòng sông chảy mãi không tìm thấy cửa biển của mình, mà tình yêu thì lớn dần, nước sông thì đầy mãi. Đó là khi lý tưởng vỡ tan, sương mù tan loãng, một phần của sự thật hiện ra giữa bộn bề của sự thật, dòng chảy quẩn quanh với lựa chọn cuối cùng là được quên đi, một ngày sẽ bốc hơi cùng nỗi nhớ.

Câu chuyện có vẻ không vui, nhưng thực ra đây là một trong những cuốn sách hài hước nhất mà tôi từng đọc. Kỹ năng viết thư với nội công thâm hậu, ăn miếng trả miếng hấp dẫn và cực kỳ thông minh. Chỉ có như thế, lực hấp dẫn mới xuất hiện giữa hai bờ sương giăng mù mịt, không một vết tích, không một bóng hình. Sự tinh tế nhạy cảm của hai nhân vật chính rất cao với khả năng đọc-hiểu rất chính xác tâm trạng đối phương, kể cả chỉ qua một dấu chấm than. Chưa có quyển sách nào khiến tôi thấy mình mắc kẹt như vậy, và chỉ muốn mắc kẹt trong cái tâm trạng như thế đến cuối đời.

Thỉnh thoảng nên đọc một quyển sách giản dị như thế này. Không cần nói chuyện thế giới, không dân tộc, không quốc gia, không thân phận. Chỉ có tình yêu thôi, và cũng chỉ có email thôi. Và có đôi ta thôi. Không phải chỉ cần chừng đó mà Chúa đã tạo nên tất cả sao. Tôi không cần tất cả, chỉ cần một đôi lần rung động mãnh liệt như đôi lần tôi đã đọc. Là đủ, đủ mất rồi

Thành phố và lũ chó

|Tôi năm nay 20 tuổi, và không cho phép ai được nói, đó là tuổi đẹp nhất trong một đời người- Paul Nizan|

Tôi không biết lứa tuổi nào đẹp nhất đời mình, nhưng tôi biết mình đã thương nhớ tuổi hai mươi của mình không phải vì nó đẹp. Không có một vết thương nào được coi là đẹp, dẫu ta đã nhìn nó hết sức trìu mến rưng rưng, thì sự thể vẫn không khá lên được. Đó vẫn là những năm tháng ít nhiều đau khổ, đầy những vết cứa nông hoặc sâu, đã thành sẹo hay vẫn còn hở miệng, là những năm tháng mộng mơ rồi tan vỡ mộng mơ, yêu thương rồi buồn tủi. Ở lưng chừng con dốc của tuổi trưởng thành, từng viên đá nặng nề từ đỉnh không ngừng lăn xuống, đè nát thân thể lẫn tâm hồn cho những cuộc lột xác không tự nguyện và sau đó buồn thảm tái sinh. Nếu có gì đáng để quên đi, thì đó là tuổi hai mươi khốn khổ, năm tháng điên rồ hụt hẫng chơi vơi, năm tháng mãi in trong não bộ mỗi người một vết sắc bén ngọt. 

Cuốn tiểu thuyết này là một cú rơi của tôi vào thế giới tuổi hai mươi của những đứa xa lạ, không mảy may có chút liên quan. Nhưng sự bức bối ngột ngạt của bầu không khí đặc sệt tù túng ở đấy tôi liên hệ được, cũng như nỗi đau đớn nhức nhối kéo dài đến cuối trang sách, tôi cảm nhận thấy. Nhức nhối như một vết thương xưa đã sưng tấy trở lại nhưng chờ hoài không có thuốc sát trùng, cứ đau kéo dài kéo dài chỉ còn biết cách hy vọng vào tháng năm. Trong một cuốn sách đầy tính bạo lực và tục tằn, trong chất nam tính ngông cuồng và ngây thơ dâng lên một nỗi buồn héo hon, ủy mị, thứ nỗi buồn mơ hồ phảng phất chất huyền ảo La tinh, thứ nỗi buồn tràn qua hết tâm trí tên chó con này đến tên chó con khác, tiết ra thứ chất độc khiến những vết thương suốt đời không khép miệng. Nỗi buồn của tuổi hai mươi.



Có lẽ đây là cuốn tiểu thuyết nhiều bạo lực nhất tôi đã từng đọc. Bạo lực không phải là vấn đề, bạo lực là môi trường, là không khí, là tất cả những gì vây quanh tuổi 14, 15 ngơ ngác bước vào đời. Bạo lực hun đúc những đứa trẻ, tôi luyện nó bằng những luật lệ vô cảm và hà khắc, để hình thành trong lòng chúng nó những dòng nham thạch cuồn cuộn chờ ngày phun trào. Trong cái nắng như thiêu của xứ nhiệt đới, mỗi con người càng ngày càng hoá đá thân thể mình, càng trơ lỳ với đòn roi cấm túc, thì tâm hồn càng cuồng nộ giận dữ những cơn thèm khát tự do. Cơn giận bốc lên trong những tâm hồn mới lớn rộng rãi trống trải, tạo ra một bầu không khí điên rồ ngang tàng mà buồn tủi đan xen. Những cuộc va chạm nảy lửa tạo ra mối thù và tình bằng hữu, dại dột và khí phách. Và tình yêu, cây trái ít ỏi và ngọt ngào giữa sa mạc mênh mông.

Dẫu bạo lực và những lời tục tằn cứ liên tục vang lên trong mỗi trang sách, thì văn chương của Mario Vargas Llosa vẫn cực kỳ tuyệt vời, để biến cả bầu không khí tối tăm bức bối kia trở nên huyền ảo. Những đoạn tả cảnh đậm đà chất nhiệt đới, những đoạn bạo lực ẩn giấu chất hài hước dí dỏm- người ta vẫn có thể cười vào mọi nỗi thống khổ thế đấy. Nhưng hơn cả, là những trường đoạn độc thoại của các nhân vật, mà nếu không chịu đọc kỹ sẽ chẳng biết cái đứa lèm bèm một mình kia là đứa nào. Những đoạn độc thoại luồn lách giữa các câu chuyện, cất cái giọng chủ quan ngây thơ lên, kể lể về những kỷ niệm buồn vui, về tình yêu chôn giấu, về ước mơ, sự giận dữ, sợ hãi, những đoạn độc thoại thoắt ẩn thoắt hiện, trôi từ tâm trí đứa này sang đứa khác, như mạch ngầm len lỏi giữa bầu không khí khô cằn, nối lại những tâm hồn bơ vơ, đan cài cái nhìn đa điểm đa tuyến của mọi người lên toàn bộ câu chuyện. Một mê cung rối rắm như rừng rậm Amazon, giăng bẫy người đọc, cài đặt những nút thắt mơ hồ. Thứ văn chương như thế khiến người ta ngạt thở nhưng đồng thời phấn khích và say đắm. Ông ấy đã có được giải Nobel văn chương bằng cái giọng văn ma mị như thế đó, thứ giọng văn thô lỗ, bạo liệt và nồng nàn, thứ giọng văn ngông cuồng nam tính, để kể về những điều rất u sầu và uỷ mị.

Tại sao người ta vẫn nhớ về tuổi hai mươi, dù có thể sẽ đấm vỡ mũi đứa nào bảo rằng đó là những năm tháng đẹp nhất trong đời. Có lẽ vì những mộng ước đã vỡ tan, niềm tin đã vỡ vụn. Có lẽ vì những ảo tưởng, những hy vọng, những khát khao, những đắm say đã hoá thành cát rơi xuống sa mạc mênh mông. Có lẽ vì những tâm hồn đã sống sót sau những trận đòn giận dữ đã tàn tật và ủ rủ như con chó Malpapeada. Có lẽ vì những ngọn núi lửa đã tắt sẽ không bao giờ nguôi nhớ những dòng nham thạch của mình. Có lẽ vì những vết thương, những nỗi buồn và sự trưởng thành đã bảo với ta rằng : mi mãi mãi sẽ không bao giờ thanh thản nữa.
 

Khải Hoàn Môn

Đêm mưa. Và tôi nhớ Ravic, ánh sáng từ điếu thuốc cháy dở anh ấy ném xuống dòng sông, loé lên như một niềm hy vọng nhỏ nhoi trong đêm dài ảm đạm, dưới cái bóng mờ của Khải Hoàn Môn ẩn hiện dưới làn mưa phùn. Chút ánh chớp trong khoảnh khắc để lại dư âm dài suốt những ngày sau, dài như cuộc đời và thời gian của những số kiếp lênh đênh. Dài như là nỗi ám ảnh của tôi đối với câu mà Ravic nói ở trong cuốn sách ấy, rằng : Chúng ta đang sống trong một thế kỷ bị lưu đày. Và thế kỷ ấy, dường như chưa bao giờ trôi qua, mà cũng chẳng thể nào trôi qua được.


Văn chương của Remarque đẹp quá, đẹp tới đau lòng, tới cồn cào xốn xang, tới tuyệt vọng. Đẹp đến mức cái bi kịch của Ravic hiện lên dưới ngòi bút của ông nó không chỉ là cái bi kịch của một thân phận người trôi dạt, mà còn là cái bi kịch của một tâm hồn quá thiết tha. Sự thiết tha không tìm thấy nơi neo đậu và bám rễ để mãi mãi quặn đau và gào thét trong lồng ngực, bùng cháy như một ngọn lửa căm hờn, bất mãn và đắng cay. Cuộc đời quá tàn nhẫn. Cuộc đời cứ thong thả gieo rắc vẻ quyến rũ của mình trong cơn lốc cuồng loạn của thời đại, khiến cho những số phận bị xoay tròn trong ấy, dù bầm dập tới nát như tương, vẫn không đủ can đảm để từ bỏ cuộc đời. Jeanne, nàng là hiện thân của cái vẻ đẹp ấy, vẻ đẹp vừa trong trẻo ngây thơ, vừa già dặn lọc lõi, tâm hồn nàng vừa say đắm nồng nàng vừa vô tình và tráo trở. Ravic đã rơi và tình yêu với nàng, như số phận đã bắt buộc anh phải ra đời vào cái thời đại hỗn loạn ấy, rơi vào trong những năm tháng điêu tàn mà yêu luôn cả cái vẻ điêu tàn rực rỡ của tháng năm. Số phận, chỉ là số phận thôi. Nhỏ nhoi như ánh lửa của điếu thuốc đã rơi xuống dưới chân cầu trong đêm, dưới cơn mưa phùn ấy. 

Tôi thương Ravic vì tâm hồn anh, vì sự nhạy cảm đến đau đớn của anh. Và vì anh chẳng là gì giữa cuộc đời này. Anh chỉ là cái bóng âm thầm đằng sau những cuộc phẫu thuật, một con người vô danh dẫu mang hàng chục cái tên. Tình yêu của anh cũng chẳng là gì, anh không đủ can đảm để giữ nó. Kể cả nỗi căm thù của anh, anh cũng tưởng nó có ý nghĩa, anh tưởng là giết được hắn xong thì mọi thứ sẽ khác. Hoá ra, nó cũng chẳng là gì ngoài sự đau đớn của riêng anh. Thế kỷ này vẫn đày đọa người ta bằng mọi giá. Anh nhỏ nhoi, bất lực, tuyệt vọng. Mà anh vẫn phải sống tiếp với tất cả những điều trên.

Ravic có thể cứu nhiều người, nhưng anh không cứu nổi đời mình. Mà thậm chí, anh cũng không biết là anh có thật sự cứu được ai không. Anh cướp họ khỏi tay tử thần, để ném họ lại vào trong một cuộc đời cũng không kém mấy phần địa ngục. Anh không biết mình nên làm gì. Sự bế tắc cứ dần dần gia tăng, tâm hồn anh hoá đá, trái tim anh hoá đá. Mọi thứ hoá đá dưới chân cánh cổng Khải Hoàn. Thế giới này đã hiến sinh tất cả, máu xương lẫn tim óc cho sự chiến thắng, một chiến thắng lạnh lùng vững chãi và vô cảm. Ai cần?

Chúng ta không cần chiến thắng. Chúng ta chỉ cần nhau, bên nhau như Javic và Jeanne đã ở bên nhau trong những đêm mùa xuân dạo ấy. Tình yêu mong manh không trụ vững nỗi trước cuộc đời, nhưng chí ít trong những phút ngắn ngủi ấy, khi tình yêu lên ngôi, họ đã hoàn toàn quên mất cuộc đời, quên thời gian và cái bóng của chiến tranh đã bủa vây. Tình yêu như liều thuốc gây mê, giúp họ vượt qua những cuộc đại phẫu. Tình yêu níu ta lại với cuộc đời, tình yêu khiến ta thôi nguyền rủa số phận, bởi nhờ nó mà ta gặp nhau. Tình yêu, chỉ là tình yêu thôi, chẳng còn gì nữa...

Nhưng mà, tôi nghĩ, thế cũng đủ cho một kiếp người rồi.

Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất

Thoạt tiên, tui nghi ngờ 4 chữ HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC xuất hiện trên trang bìa. Những sự ca ngợi quá đáng luôn làm tui đề phòng và giảm sự kỳ vọng của mình xuống tới zê rô. Nhưng cuốn này thì khác. Cả đêm qua và ngày hôm nay nữa, tui đã bế quan tỏa cảng để đọc nó, và thừa nhận, nó có đầy đủ các yếu tố để làm nên một HIỆN TƯỢNG.

Các yếu tố đó là gì ? Hài hước: có nhiều, có đầy đủ trong từng dòng, từng trang, từng chương. Kịch tính : có dư. Bất ngờ : trời nói chứ chưa bao giờ tui đọc một cuốn sách mà tui không sao đoán được các nhân vật sẽ hành động cái gì như cuốn này. Và cuối cùng : sự kiện , cả một thế kỷ 20 đầy những biến động trải dài trong cuốn sách, những xung đột, những mâu thuẫn của thế giới cứ thế mà theo hồi ức của ông cụ 100 tuổi mở ra trên từng trang sách.



Nói tóm tắt một chút về nội dung : cuốn sách này không nổi trội về mặt văn chương, vì cách hành văn khá đơn giản (nhưng bù lai hết sức thông mình và dí dỏm), nhưng tui cực kỳ đánh giá cao nó về mặt ý tưởng. Không có một cuốn sách lịch sử nào được kể lại mà đặc biệt hơn thế. Bạn sẽ hiểu thế giới này hơn mà không cần nhăn trán, nhíu mày hay tổn hao nơ ron cho các sự kiện. Bạn chỉ cần vừa đọc vừa cười ha ha như tui thôi. Ngay từ trang đầu tiên, nó đã cực kỳ đặc biệt rồi.

Câu chuyện mở đầu bằng sự kiện cụ già Allan, trong ngày sinh nhật của mình đã trèo qua cửa sổ của Nhà Già, giẫm nát bụi hoa pansee, trèo qua bức tường cao khoảng 1m, với bộ đồ duy nhất cùng đôi dép có mùi nước đái của cụ, bỏ trốn. Và từ đó kéo theo một binh đoàn đi tìm cụ bao gồm :

1. Chính quyền địa phương
2. Báo chí địa phương
3. Ăn cướp địa phương (vì không may cụ đã lấy cái valy đầy tiền của một tên cướp vì nghĩ rằng mình cần valy đựng cái gì đó )

Với một lực lượng hùng hậu như vậy, để săn tìm một ông cụ gần đất xa trời, thì quả là hơi xa xỉ. Nhưng tất cả đã nhầm, Allan , người từng sống qua thế chiến thứ I, thế chiến thứ II, thời kỳ chiến tranh lạnh, vũ khí hạt nhân các thứ , và có một thời tuổi trẻ huy hoàng làm chuyên gia chất nổ, liệu có dễ gì để người ta bắt được.

Nhất là trên đường đi Allan không chỉ có một mình. Bằng cách nào đó, cụ đã thành lập được băng của mình, ngon lành cành đào.

Thế nào, có gay cấn như phim Holywood hem?

Vậy bạn có hiểu tại sao cuốn sách này đã trở thành hiện tượng xuất bản chưa. Chính bởi vì nó có trong tay tất cả các yếu tố để làm hài lòng tất cả các thể loại độc giả : từ người ưa trinh thám, ưa phiêu lưu, ưa hành động đến thể loại ưa chiêm nghiệm, ưa nghiên cứu và cả những người đi tìm một tiếng cười sảng khoái để giải trí (cộng thêm thứ độc giả thích hầm bà lằng như tui đây ) 

Thành trì

Những cuốn sách về ngành Y tựu chung đều gợi lên một thứ cảm giác rất cô tịch, đơn độc. Nó gần như là một cuộc chiến mà người chiến đấu chỉ đơn thương độc mã ra trận, giữa muôn trùng khó khăn tiếp nối, giữa muôn trùng gian lao và hơn hết họ phải chiến đấu với muôn trùng kỳ vọng của bệnh nhân, của thân nhân những người đang trông đợi họ như trông đợi phép màu mà không hiểu rằng rốt cuộc họ cũng chỉ là một con người. Cái cô độc của một người bác sĩ là cái cô độc của một người phải đối mặt với kẻ thù chỉ duy nhất họ nhìn thấy - và thậm chí cả họ cũng khó lòng nhìn thấy. Thứ cô độc bơ vơ trong hình hài, trong dáng đứng, trong ánh nhìn. Đó không phải là con đường dễ dàng để lựa chọn.


A.J. Cronin từng là một bác sĩ. Ông hiểu cái gian lao của nghề, cái đơn độc của nghiệp. Bởi vậy những cuốn sách ông viết rất chân thực tới cả những giọt mồ hôi, tới cả máu và nước mắt và rồi cả những sinh mệnh. Từ 'Những tháng năm ảo vọng' cho đến 'Thành trì', những con người trong trang viết của ông hiện lên giản dị nhưng mạnh mẽ trong từng cuộc đấu tranh, trong từng cuộc vật lộn. Đấu tranh với tham vọng bản thân, đấu tranh với nghiệt ngã của số phận và đối mặt với những thất vọng đắng cay khi không giữ nỗi sinh mệnh con người.

Bây giờ, ở cái xã hội rối ren này, người ta vô cùng thất vọng về ngành y, thất vọng đến mức không còn nhận ra rằng nỗi thất vọng ấy đang rút dần rút dần đi của bác sĩ lòng nhiệt huyết và tinh thần cam đảm để chiến đấu, cuộc chiến đơn độc mà ngày này qua tháng khác họ vẫn gánh trên vai. Ai đã trao cho họ cái quyền nắm trong tay sinh mệnh người khác? Ai đã đưa họ lên đỉnh núi cao cheo leo và lộng gió, dù cao hơn vô vàn người nhưng gần vực thẳm hơn vô vàn người? Không ai hiểu, không ai cảm thông. Và nghề Y rốt cuộc vẫn là nghề hết sức nguy hiểm.

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Chết ở Venice

Hiếm có nơi nào trên thế giới có được vẻ đẹp như Venice đã có, kiểu đẹp nửa thiên đàng nửa trần tục, nửa thanh lịch nửa hoang dại, vừa ngọt ngào lãng mạn vừa bí ẩn và đầy bất trắc. Có lẽ vì vẻ đẹp đó mà Thomas Mann đã chọn Venice làm nơi dấn thân cuối cùng cho nhân vật của ông : Gustav von Aschenbach, một nhà văn đức cao vọng trọng, người đã dùng gần như toàn bộ cuộc đời mình để chiến đấu cho văn chương nghệ thuật, với cái tinh thần chiến đấu kiên cường và tính khắc kỷ đã tôi luyện từ thuở còn thơ. Cuộc dấn thân cuối cùng đầy rung động, nhục cảm và hủy hoại nhưng hoàn toàn xứng đáng để đánh đổi.

Cũng giống như trong Núi thần, phong cách viết của Thomas Mann ở cuốn sách này cũng chậm rãi, thong dong và không hề thiếu những nụ cười thấp thoáng. 1/3 cuốn sách dùng để xây dựng nhân vật Aschenbach vững chãi kiên định như núi với tư tưởng nghệ thuật đầy tính hàn lâm và mô phạm, nhân vật chưa bao giờ chịu thả lỏng bàn tay lẫn tâm hồn trước cuộc sống, chưa bao giờ mất kiểm soát với tâm trạng. Aschenbach sống một đời đầy khắc kỷ và đầy phòng thủ những tưởng sẽ không có gì tác động cho đến ngày chiếc gondola từ từ đưa ông đến Venice, quanh co trong thế giới chằng chịt kênh rạch, mơ hồ những cái nhìn bí hiểm và mời gọi nồng nàn. Diễn biến của quá trình ấy phảng phất câu hát Lưu Nguyễn quên trần hoàn của Thiên Thai dạo nào, đầy mê đắm ngọt ngào nhưng hứa hẹn rất nhiều điều phải đánh đổi. Một cuộc sa ngã có sẵn điềm báo nhưng lại quá nhiều cám dỗ.

Câu chuyện tình yêu đồng giới chiếm khoảng 2/3 còn lại, nhưng phần lớn đó là thứ tình cảm một chiều. Chỉ thỉnh thoảng cậu bé đẹp trai Tadzio mới dành cho ông một vài ánh mắt chứa "dụng ý". Còn lại tất cả những gì chúng ta có là câu chuyện diễn ra trong nội tâm của Aschenbach, cuộc đấu tranh vật vã để giữ lại ngọn núi đã định dạng và xây dựng nên trước sự sụp đổ do cám dỗ của bản năng, của những giấc mơ thầm kín đã bị tháo cũi sổ lồng để vươn vai đứng dậy. Đến gần cuối đời, lần đầu tiên Aschenbach nghe thấy tiếng nói của bản năng, của con người thật của chính mình, gầm rú đầy hoang dã và khinh khoái, thứ âm thanh mời gọi, buông thả và mãnh liệt. Đó là một cuộc đấu tranh đầy đau đớn lẫn hạnh phúc, bởi những gì nhận được và những gì bị đem ra đánh đổi. Nó cho ta thấy sức công phá mãnh liệt của tình yêu và sự tha thiết của con người đối với tình yêu biết đến chừng nào.

Càng đi sâu vào Venice, Aschenbach đã gần như cởi bỏ gần hết con người mô phạm của mình để hiện lên thứ bản năng bị đè nén suốt bao nhiêu năm của một con người nghệ sĩ. Và trong những giây phút bị chất nghệ sĩ dẫn đường, ông đã lạc lối vĩnh viễn vào mê cung của tình yêu, với trái tim say đắm choáng ngợp nhưng cũng đầy đau khổ dằn vặc. Trái tim của Aschenbach cũng là trái tim của tất cả những người nghệ sĩ trên thế giới này, khi dấn thân theo tiếng gọi của bản năng đành bỏ lại sau lưng trách nhiệm và những kỳ vọng, những giá trị đạo đức lẫn cả ray rứt lương tâm. Không có sự thỏa hiệp. Con đường của Aschenbach đi chỉ còn một cách dẫn đến hủy hoại, nhưng sự hủy hoại ấy mới chính là chất liệu để cho nghệ thuật được trường tồn. Tình yêu mà ông dành cho Tadzio là thứ tình yêu ngông cuồng kỳ vỹ và đẹp đẽ, thứ tình yêu mạnh mẽ choáng ngợp và đầy sức mạnh, dám đem cả thế giới từng tạo dựng đầy kỳ công để phủ phục trước cái đẹp. Cho dù tận cùng của cuộc đánh đổi ấy, là cái chết.

Cái gì đã tạo nên những người nghệ sĩ? Có lẽ đó chính là sự mù quáng. Hoặc là sự bất chấp liều lĩnh, sự ngông cuồng phi lý. Hoặc là tất cả những điều đó. Tadzio là biểu tượng của một cái đẹp không sao nắm bắt nổi, và thứ tình yêu của Aschenbach là thứ tình yêu phi đạo đức, vô luân ở thời ấy. Sự sa ngã của Aschenbach có thể coi là một sự yếu đuối không cưỡng nỗi cám dỗ, nhưng cũng có thể xem như một sự can đảm, can đảm chấp nhận mất mát, huỷ hoại, can đảm đương đầu với lương tâm để thưởng thức hương vị ngọt ngào của tình yêu. Cái chết của Aschenbach có thể ví như sự hiến sinh vì cái đẹp của một người nghệ sĩ, không bao giờ hối tiếc.

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Bão

Những cơn bão không cần lý do để đến trong thế giới này, nhưng nó cần những khoảng trống để sinh ra. Từ biển rộng khôn cùng hay từ lòng tử cung âm thầm của những người đàn bà, từ cõi lòng nứt toác vì những vết thương của họ hay từ nỗi chán chường khôn khuây. Bằng những cách khác nhau, người ta mang bão đến với cuộc đời, như bản mệnh, như số phận. Và bằng cách chống trả lại với những cơn bão, họ đã hoá thành những cơn bão.

Biển đã sinh ra bão như những người đàn bà đã sinh ra những đứa con, đầy sợ hãi và bơ vơ nhưng vẫn lựa chọn việc đem chúng vào đời. Bão ở đó trong nỗi ám ảnh về thân phận, trong những vết cứa của quá khứ và những vọng tưởng về ngày mai. Những người đàn bà hoá bão một cách âm thầm, mạnh mẽ và độc ác một cách âm thầm. Để những người đàn ông, những người đã xé toạc đời họ ra để gieo một cơn lốc đớn đau vào đấy, sống nốt quãng đời còn lại dưới bóng mây đen bao phủ của những gì mình gây nên, giữa điệp trùng quá khứ bủa vây và hiện tại không lời hồi đáp. Người ta không thể lấy lại được hạt mầm mình đã gieo, cũng như bão không thể quay lại chui vào đáy biển mà ngủ yên. Và bão vì thế mà đã thành một phần của thế giới, của cuộc đời, một món nợ của kiếp người và lạ thay, nó cũng chính là ý nghĩa của sự sống.

Thế gian sẽ ra sao nếu không có bão? Cũng như cuộc đời này có nghĩa lý gì nếu không có những vết thương? Thế nên năm tháng chưa bao giờ thôi chồng chất những trái ngang của nó lên mỗi số phận, và biển không năm nào quên tặng cho đất liền những trận cuồng phong. Sau tất cả, à mà không, sau mỗi giai đoạn, mọi thứ sẽ tan tác. Nhưng rồi mọi thứ cũng tinh khôi. Mỗi sự đổ vỡ đều là một cơ hội để soi rọi để thấu suốt dù là không dễ để chịu đựng. Đau đớn là chất liệu cho sự trưởng thành, người ta sẽ mạnh mẽ hơn, và dịu dàng hơn nhờ nó. Những người đàn bà hiện lên dưới ngòi bút của Le Clezio đều ngang tàng bất cần khi đối diện với bão tố và rồi đều đằm thắm và nữ tính hơn khi đi xuyên qua nó. Với ông, đàn bà là biển cả, im lặng khi người ta gieo vào lòng nó thậm chí cả một trái bom, nhưng một ngày sẽ tặng lại cho ta những cơn bão đầy bất ngờ cuồng nộ nhưng bất cần truy đòi hay giải thích. Sự nổi loạn của họ đầy ám ảnh nhưng sự nhẫn nhịn của họ thậm chí còn ám ảnh hơn, như một biển khơi phẳng lặng báo hiệu ngày bão đến.

Sau cuối, mọi cơn bão đều tan. Nó có thể cuốn về lòng biển những thứ vô nghĩa hay có nghĩa trên mặt đất nhưng nó đều trả lại cho mặt đất sự bình yên. Mọi thứ luôn có thể được phục hồi, tạo dựng. Bão là cách mà biển đòi lại món nợ cho mình, cũng là cơ hội để người ta được trả những thứ mà mình đã vay hoặc cướp đi, để cứu chuộc tâm hồn mang nhiều tội lỗi. Bão vì thế là sự tha thứ mà thượng để dành cho loài người, dẫu là mãi mãi loài người không bao giờ xứng đáng với bất kỳ một sự tha thứ nào. Nhưng vì thượng đế vẫn còn yêu thương, và vì loài người vẫn còn mong muốn được yêu mà đến cuối cùng, người ta sẽ học được cách tha thứ cho chính mình. Vì yêu, vì thế...

Xác thịt về đâu

Cuốn sách có thể sẽ là một cú sốc nho nhỏ đối với những ai luôn nghĩ về tính bền chặt và bất khả phân ly của tình máu mủ ruột rà, về chất keo nối kết có tên là huyết thống, về những giá trị đạo đức khuôn mẫu và cổ điển - hệt như nó đã từng xảy ra ở phương Tây hơn một trăm năm về trước. Hơn một trăm năm, sự tụt hậu của chúng ta không phải dạng vừa vừa vừa đâu. Nhưng thôi, chuyện đó để dành nói lúc khác.

Như Samuel Butler đã thừa nhận trong cuốn sách này, rằng như mọi tác phẩm của cuộc sống, tác phẩm của ông đã thể hiện chính bản thân ông hơn bất cứ một nhân vật nào khác, nhưng ta cũng phải thừa nhận rằng, Samuel đã cố gắng nhìn nhận câu chuyện với cái nhìn trung lập nhất có thể, và công bằng hết sức mình, để cho ra đời một câu chuyện xác thực, công tâm và không hề định kiến. Sự thẳng thắn này rõ ràng đã thoát khỏi tầm ảnh hưởng của các giá trị đạo đức và tín ngưỡng, vượt ra khỏi những quan niệm cố hữu của thời đại để soi rọi tới những góc khuất của tâm hồn, tìm cho ra mối dây ràng buộc giữa các thế hệ trong một dòng họ, và khiến người đọc phải nhìn nhận đúng bản chất của những sự kết nối ấy, nó chẳng qua chỉ là những nỗi sợ hãi được gieo trồng từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Cuốn sách không bác bỏ các giá trị đạo đức, nhưng nó chỉ cho ta thấy sự vô nghĩa của các giá trị đó, sự hủy hoại tâm hồn và chất độc tiết ra từ nó để ăn mòn giấc mơ của cuộc đời như thế nào. Chúng ta không có quyền lựa chọn gia đình mà chúng ta sinh ra, nhưng nhờ các giá trị đạo đức đầy tính áp đặt, những đức tin mù quáng và ảo tưởng, rốt cuộc, chúng ta cũng không lựa chọn được con đường mà chúng ta sẽ đi, cái con người mà chúng ta sẽ trở thành. Dòng họ Pontifex không sa vào những bi kịch lầm than, nhưng cái lưới mà họ sa vào cũng không hề kém cạnh phần đau khổ, đó là cái bi kịch phải sống một cuộc đời của một kẻ xa lạ với chính mình, phải sống dưới cái bóng ám ảnh của các giá trị đã mặc định như những lưỡi dao treo lơ lửng trên đầu, gồng mình gánh chịu những niềm vui lạc lõng để rồi mặc cảm vô cùng với tấm áo khoác trên người. Từng người một trong dòng họ đều nhận ra thứ mà họ mang, nhưng vì hèn nhát, hay vì nông nổi, hay vì ảo tưởng, họ đều tiếp tục dấn sâu hơn vào thảm kịch mà đạo đức và đức tin đã dựng nên như những kẻ mộng du đi theo lập trình đã định sẵn.

Sẽ không có bài học nào ở đây. Các bài học cũng vô nghĩa như các giá trị đạo đức, hay nói đúng hơn, không có một khuôn mẫu nào chung để áp dụng cho tất cả mọi người. Giáo dục, rốt cuộc không phải tạo ra những con người rập khuôn với những hạnh phúc đầy tính tiêu chuẩn như thứ mà chúng ta đang làm. Giáo dục là mở ra những con đường, những chân trời, những tấm vải. Việc còn lại là của từng người, đi con đường nào, mơ những chân trời nào và khoác tấm áo nào vừa vặn với chính mình. Mục đích của giáo dục là gì nếu không phải là để con người tìm đến với những niềm hạnh phúc thực sự của bản thân? bởi chính hạnh phúc thực sự mới có thể sinh ra được những niềm hạnh phúc mới. Như Ernest, cuối cùng cậu đã thoát khỏi tấm lưới chuẩn mực mà dòng họ cậu đã dệt nên suốt cả trăm năm, để bắt đầu với công việc bần hàn hơn nhưng hợp với cậu hơn, là thợ may. Rốt cuộc, cậu đã có thể sống với cuộc đời mình mong muốn, tự tay may cho mình tấm áo vừa với mình. Đó là cái kết có hậu nhất sau hơn 600 trang sách, cái kết nhẹ nhõm và rộng mở, bất chấp những giá trị, bất chấp luân lý. Tự do thật sự đã khởi đầu.

Không khó đọc như bạn tưởng đâu. Một chút kiên trì, bạn sẽ tìm ra vô số câu cần gạch chân hoặc bôi đậm bằng bút highlight. Chúng ta đã muộn hơn người khác cả trăm năm rồi, đừng để muộn hơn nữa.

Tay sát thủ mù


Đâu là ngưỡng cửa của thế giới bên trong và thế giới bên ngoài? Mỗi chúng ta hằng ngày di chuyển cánh cổng này mà không tự biết ...

Ở trang thứ 400 của cuốn sách, Margaret Atwood viết ra một câu đầy tính chất đánh thức khiến tôi, một người đã kiên trì với ngần đó trang sách, tù mù trong cái thế giới đầy mê lộ với những không gian chồng chéo giữa hiện thực và tưởng tượng đan cài mà chưa thể tìm được một giao tuyến cho tất cả, bỗng dưng bừng tỉnh. Đến đây, tôi đã bắt đầu hình dung và sắp xếp lại mọi thứ theo một trật tự rất zig zắc đi lòng vòng từ thực tới ảo, từ hiện tại đến quá khứ, xâu chuỗi lại mọi thứ theo cảm xúc và ký ức để đến với một câu chuyện ly kì, lãng mạn và bi thương, náu mình dưới gương mặt thản nhiên của tấm vải do tất cả các nhân vật trong câu chuyện ấy dệt nên. Và tôi đã biết tham vọng của cuốn sách là gì. Chính là làm một tia X để chiếu thẳng vào tâm hồn của tất cả, không loại từ là cả chính chúng ta.

Nghệ thuật kể chuyện của Atwood quá tuyệt vời, không quá rối rắm, không đánh đố, nhưng bà dắt chúng ta đi một quãng đường rất dài, băng qua bao thế hệ, băng qua mấy hành tinh và các thể loại người, vừa viễn tưởng về phía tương lai vừa phảng phất chút phong vị cổ điển u hoài trong các câu chuyện kiếm hiệp. Nhưng bà không trộn tất cả chúng lại với nhau mà bóc tách nó ra thành từng mảng nhỏ xen kẽ nhau. Và như được nhìn về từ một hồi ức đã lãng đãng sương, chúng hoà vào nhau ở đường biên giới, không phân biệt thực và mơ. Chính là cánh cửa mà hằng ngày chúng ta đã đi qua mà không hề hay biết ấy, Atwood đã để dành cho phút chót.

Ngoài cách kể chuyện như dệt vải kiểu random ra, thì điều tôi thích hơn nữa chính là văn phong của bà ấy. Không dễ gì tìm được một tác giả có giọng văn vừa ngầu đời, bất cần mà vừa lại thi vị và say đắm nhường kia. Nó dường như lột tả hết tính cách nhân vật, cô gái tên Iris với một vẻ nhu mì cam chịu nhưng ẩn chứa một nội tâm nổi loạn, cái cá tính ngang ngạnh tiềm tàng với khát vọng tự do. Không tâm sự hay thở than, không một chút ai oán, Iris chính là hiện thân của tính nữ, mềm mại dịu dàng nhưng không bao giờ đầu hàng hay bỏ cuộc, với sự bền bỉ âm thầm và khôn khéo. Iris là kiểu người phụ nữ tôi thích, bao nhiêu sức mạnh lặn cả vào trong để sự nhún nhường ra mặt chiến đấu. Cô kiên cường nhưng không lộ liễu, cô mạnh mẽ nhưng không phô phang, cô nữ tính nhưng không ẻo lả. Margaret không cần làm nhiều, chỉ cần tạo ra một nhân vật như thế là đủ để giành lại nữ quyền cho cả thế giới.

Vì bà ấy là một nhà thơ, nên chúng ta có một cuốn sách đầy chất thơ và tính ẩn dụ, nhưng chúng ta cũng có một cuốn sách đầy gai góc và những vết thương. Tấm vải mà Margaret dệt nên vừa mềm mại vừa thô nhám, vừa êm ái vừa đầy vết cứa. Nó chính là thế giới được chiếu rọi từ ánh sáng phát ra phía tâm hồn những người phụ nữ, đầy nhạy cảm nhưng rất can trường. Không nhiều, nhưng đủ để quàng chiếc khăn lên mình như khát vọng của chính họ, được cuộc đời ôm ấp và vỗ về đầy dịu dàng và đau đớn. Như khoác lên mình thứ mà thế giới này ưu ái dành cho họ, là tình yêu.

Bảo tàng ngây thơ

MỘT TÌNH YÊU KHƯỚC TỪ LÃNG QUÊN

Đã đến cái thời mà chúng ta, bằng đôi cánh của lý trí hoài nghi và lý tưởng về tự do, đều rời xa thời thơ ngây của mình thật sớm. Giờ đây, tình yêu vĩnh cửu chỉ là ảo mộng sớm nở tối tàn của tuổi thanh xuân, những đau khổ mất mát, những cơn thất tình đã trở thành những cơn rồ dại của tuổi trẻ, và người ta chỉ còn tin vào những khoảnh khắc nhất định của cuộc đời, thì một cái gì đó mang thông điệp về sự mãi mãi thật khiến người ta ngần ngại và thậm chí sửng sốt. Vậy mà Orhan Pamuk, ở tuổi 56, viết Bảo tàng ngây thơ, câu chuyện về một mối tình đã đến trong đời người đàn ông 30 tuổi, Kemal, và ở lại đó cho đến phút cuối. Câu chuyện rất đơn giản nhưng để nó có thể tồn tại giữa thời đại lý tính này, thì nỗ lực dành cho nó gần như là bất tận.

Tình yêu mà Kemal dành cho Fusun khởi đầu bằng những cơn lốc cảm xúc cuồng nhiệt rất đỗi bình thường, khi họ lao vào nhau bất chấp cuộc đời và những giá trị đạo đức. Những người đọc lý trí sẽ đinh ninh rằng, như mọi cơn mưa rào khác, sự vồn vã dồn dập của nó đã được đánh đổi bằng thời gian ngắn ngủi của mình. Nhưng Orhan Pamuk không viết về những cơn mưa như thế, nó khởi thuỷ không phải là một cơn mưa mà là một dòng thác, khi đã tuôn trào vốn không hứa hẹn một ngày sẽ chấm dứt. Một mối tình kéo dài suốt đời, dai dẳng chờ đợi, triền miên với những cơn hy vọng rồi thất vọng chập chùng lúc căng lúc giãn, mối tình ám ảnh toả cái ánh sáng lấp lánh và nhức nhối của nó lên thành phố nơi câu chuyện diễn ra, phủ niềm say đắm của nó khắp các nẻo đường, hang cùng ngõ hẻm, các quán xá, hàng cây, đồ vật. Mối tình ấy không chỉ có hai người mà có cả thế giới nơi họ thuộc về, nơi ánh mắt họ quét qua, nơi bàn tay họ chạm tới. Bằng cách đó, tình yêu chống lại thời gian, với tất cả các bằng chứng mà nó có. Kemal đã dành toàn bộ cuộc đời để xây dựng cho mình một bảo tàng của tình yêu, một cách chuyển hoá và lưu trữ cảm xúc để nó tồn tại mãi hoài trong năm tháng lãng quên...

Trên đời, những người hoài niệm quá khứ có rất nhiều, những người lặn lội ngược dòng cũng không ít, nhưng chỉ có Orhan Pamuk là cặm cụi nghiên cứu ký ức như một nhà khảo cổ nghiên cứu cổ vật của đời mình, soi tới từng chân tơ kẽ tóc của quá khứ bằng đôi mắt đã gắn kính lúp, để mọi thứ hiện lên rõ ràng, chi tiết và cụ thể. Với Orhan, đó không phải là một cuộc đi tìm như Marcel Proust đã làm với dòng hoài niệm miên man về thời gian đã mất, đó là một công cuộc xây dựng tái thiết với toàn bộ sức lực và tình yêu dành cho một công trình duy nhất và vĩ đại nhất cuộc đời: một mối tình. Công trình trừu tượng của cảm xúc được chuyển hóa bằng kỷ vật để hiện lên như một không gian cụ thể có chạm trổ xếp đặt, tỏa ra bầu không khí vững chãi và mạnh mẽ của nó như ngôi đền Patheon đã cố định mình trong dòng chảy bất tận của thời gian.

Đi xa hơn câu chuyện của một mối tình là câu chuyện của tình yêu và hạnh phúc. Tình yêu của Kemal với Fusun cũng như tình yêu của Orhan Pamuk dành cho Istanbul, đều khởi đầu bằng sự tình cờ của số phận và rồi ngày càng đắm đuối đi đến cùng như gã si tình. Đắm đuối đến mức người ta phải đặt câu hỏi rằng, điểu gì đã khiến ông yêu nhiều đến vậy? Và Kemal, người đàn ông đã theo đuổi mối tình vô vọng trong suốt 8 năm thì có đáng thương không? Kemal đã trả lời cuối cuốn sách: Tôi đã sống một cuộc đời hạnh phúc. Hoá ra, hạnh phúc đơn giản của cuộc đời chính là được điên rồ theo đuổi điều mình mong muốn, hạnh phúc được bất chấp tất cả để yêu một tình yêu phi lý vô cùng. Kemal đã yêu một cô gái nghèo không cùng địa vị với anh cũng như Orhan Pamuk đã yêu Istanbul, thành phố già cỗi với rất nhiều vết thương thời đại và những cuộc xung đột đẫm máu. Giá trị của tình yêu và hạnh phúc cuối cùng không đo bằng thành tựu hay bằng sự viên mãn mà nó đo bằng việc sống trọn vẹn, sự hết lòng. Có gì hơn là được đắm chìm vào thế giới mà ta mong muốn?

Văn chương của Orhan Pamuk là kiểu văn chương chạm trổ cầu kỳ tỉ mỉ. Giọng văn đầy khắc kỷ của một nhà khảo cổ học khiến mối tình hoang đường điên rồ ấy hiện lên như một thực thể hiện hữu lung linh đầy xác tín. Trong nỗ lực tạo tác ấy có tâm tư của người viết, kẻ luôn đặt mình song hành với cái thế giới ông tạo ra. Cái tâm tư ấy nếu ta có thể nhìn thấy, phảng phất trên những nẻo đường Istanbul hiện lên trong cuốn sách, là sự gắn bó, là sự mến yêu, là sự thủy chung với mảnh đất mà hồn mình neo đậu, cũng là nơi mối tình kia neo đậu. Bảo tàng ngây thơ là câu chuyện về sự quay về, sự đắm mình trong không gian của hồi ức của một tình yêu đã khước từ sự lãng quên để ở lại mãi mãi.

Đời tôi

Tôi muốn dùng tất cả lời khen của mình dành cho cuốn sách này, nhưng không biết phải viết sao mới đủ. Những gì cuốn sách đem đến quả là ngoài sức mong đợi, và những gì tôi nhận được quả tình khiến tôi choáng ngợp. Bao lâu rồi không có một cuốn sách viết chân tình, dễ hiểu và dí dỏm chừng này, mà lại khốc liệt và dữ dội tới vậy? Và bao giờ thế giới mới lại có một nhà phê bình văn chương đích thực như thế? Hay tôi đã mong đợi quá nhiều?

Nhưng nếu bạn đã đọc cuốn sách này rồi, thì thật khó để không mong đợi một điều gì đó từ cuộc sống. Cuộc sống đẹp vậy mà, bởi cuộc sống cho ta tình yêu và đam mê, cho ta nghệ thuật và cái đẹp. Bởi vậy mà cuộc sống dẫu khắc nghiệt và dữ dội, dẫu bạo tàn thì người ta vẫn tiếp tục hành trình của số phận. Marcel Reich-Ranicki, ông ấy đã dùng toàn bộ cuộc đời của mình để chứng minh rằng : tình yêu có thể cứu rỗi người ta biết nhường nào. Vào những giờ phút bi lụy hãi hùng nhất cuộc đời, chỉ có tình yêu mới đủ can đảm bước lại gần ta và an ủi, tiếp thêm sức mạnh. Nói những câu này bạn sẽ cho rằng thật sáo rỗng và ngây thơ, nhưng tôi tin rằng ngây thơ là một phần của hạnh phúc.

Marcel Reich có hạnh phúc không? Đọc những trang cuối cùng của cuốn tự truyện, tôi nghĩ rằng ông đã sống một cuộc đời hạnh phúc. Đó là cái hạnh phúc của một người trải nghiệm, ôm cả thế giới vào lòng bằng toàn bộ tình yêu, sự thấu suốt và cái nhìn tinh tế, sự nhẫn nại và hơn hết là lòng can đảm. Can đảm chính là viên gạch đầu tiên của hạnh phúc, dù Marcel sau này mới thừa nhận điều đó một cách dí dỏm, rằng là một nhà phê bình thì cần can đảm, như ông đã can đảm ăn món xúp kinh hoàng của một nhà văn đầy triển vọng để được trò chuyện cùng anh ta. Mọi thứ đều có giá phải trả, vấn đề là bạn có dám đánh đổi hay không mà thôi.

Đời tôi - Marcel đã đặt tên cho cuốn tự truyện của mình đơn giản như thế. Nhưng khác với những cuốn tự truyện đầy ắp hình ảnh cá nhân và những câu chuyện sặc mùi biện minh giải bày, Marcel hầu như thu mình lại trong cuộc đời của chính ông, chỉ còn lại đôi mắt. Đôi mắt phản chiếu thế giới xung quanh, thời đại, lịch sử, những quay cuồng biến động, đôi mắt nhìn vào tâm hồn mỗi người, đôi mắt tha thiết với văn chương, âm nhạc, kịch nghệ. Cho nên chúng ta có một cuốn sách đầy tư liệu lịch sử với một người kể chuyện bình tĩnh nhẫn nại và sáng suốt, người chưa bao giờ vì đau đớn mà nhìn nhận sai lạc, chưa từng để lòng căm thù thiêu đốt sự công tâm. Chúng ta có một cuốn sách tràn ngập văn chương và âm nhạc với những hiểu biết sâu rộng và tinh tế. Và chúng ta biết, thế giới này có một con người tuyệt vời như thế.

Cuộc đời Marcel là một chuỗi biến động không ngừng nghỉ, là những tháng ngày di cư từ vùng đất này sang miền đất khác. Như ông đã tự giới thiệu một cách dí dỏm đầu sách : tôi, nửa Đức, nửa Ba Lan, và hoàn toàn Do Thái, nhưng cuộc đời ông chưa từng nửa Đức hay Ba Lan, cũng không bao giờ sống như người Do Thái. Số phận của ông là không thuộc về một hệ quy chiếu dân tộc hay lãnh thổ nào, thậm chí ông không thuộc về bang hội đảng phái nào, dù danh nghĩa là có. Chỉ một mình Marcel biết ông thuộc về đâu, quê hương của ông suốt đời chỉ có một : ông thuộc về nền văn học Đức.

Nhờ Marcel, người ta yêu hơn văn học Đức, ông là người hướng ngòi bút phê bình của mình đến với đại chúng. Ông viết cho những người bình thường đọc, ông phổ cập và nhân rộng tình yêu văn chương. Nhờ ông mà tôi hiểu rằng tại sao nước Đức đã sản sinh ra một đội quân diệt chủng, nhưng nhân loại vẫn không thôi kính trọng người Đức. Nhờ ông mà tôi hiểu tình yêu có thể khiến người ta quên đi hận thù như thế nào. Nhờ ông mà người ta biết, thế nào là một nhà phê bình đích thực.

Nếu nói rằng đây là cuốn sách tôi thích thì không đủ. Đây là cuốn sách đầu tiên đem đến cho tôi cảm giác biết ơn và ngưỡng mộ, như ngưỡng mộ chàng Danko ngày xưa trong sách tôi học đã xé toang lồng ngực để thắp đuốc dẫn đường. Cho dù tất cả những gì mà Marcel lý giải đều vỏn vẹn trong vài chữ : vì yêu, thì đó cũng là một tình yêu xứng đáng được vinh danh và ngưỡng mộ, vì tất cả những gì mà nó được đánh đổi.

Cánh cửa

Văn học thế giới đã chứng kiến không ít mối quan hệ lạ thường, cái lạ thường của những điều rất bình thường bị lộn trái, hoặc phơi bày phần giông bão của nó ra. Chính vì sự bình thường đó mà người ta sửng sốt bàng hoàng và rồi đau đớn, để rồi nhận ra nơi sâu kín nhất không phải là địa ngục âm ti mà là lòng người, và hình phạt đáng sợ nhất chính là sự thật. 

Cánh cửa - Szabo Magda đã đặt cho tác phẩm của mình một cái tên giản dị súc tích và cô đọng nhất, một hình ảnh bình thản vô cảm mà chứa đầy tính hai mặt và sự sâu thẳm vô biên. Nó mở cả một thế giới phía sau lẫn phía trước, cả nỗi tò mò khám phá lẫn sự sợ hãi ngập ngừng. Nhưng nó, cũng như mối quan hệ giữa hai người phụ nữ trong câu chuyện này, một nữ nhà văn và một người đàn bà giúp việc, là thứ có mặt nhan nhản trong cuộc đời này, thứ bình thường tới vô hình và vô nghĩa trong tâm trí người khác. Cánh cửa - bản thân nó nói hết được tất cả những gì mà Szabo Magda muốn nói, không ẩn dụ, không bóng gió, không hoa mỹ. Nó thản nhiên gây chấn động bằng những gì nó dẫn đến : cuộc đời của người đàn bà giúp việc có tên Emerenc.

Trên thực tế, cánh cửa của Emerenc chỉ mở vào những trang cuối cùng của cuốn sách, cũng là những trang cuối cùng của đời bà. Emerenc giống như một loài giáp xác khổng lồ và mạnh mẽ với vỏ bọc dày, một pháo đài bất khả xâm phạm sừng sững bước vào cuộc đời của hầu hết mọi người, tỏa ra cái uy quyền mạnh mẽ đầy xác tín và kiên định cùng với ánh nhìn sắc sảo thẳng băng, cái ánh nhìn sâu tới gan ruột của từng người. Và họ, trở thành tín đồ của bà trong im lặng. Từng người một đến trước hiên nhà và mở rộng lòng ra với bà. Bà đón nhận họ, nhưng chỉ ở hiên nhà. Cánh cửa duy nhất vào nhà luôn đóng chặt.

Nhưng cuối cùng pháo đài ấy cũng mở cửa cho một người. Cô nhà văn nóng nảy vụng về, cô không nhiều từng trãi, thiếu cả bao dung và sức chịu đựng. Nhưng với cô, bà mở cửa nhà mình và lòng mình. Có thể bà thấy ở cô tuổi trẻ và những giấc mơ của mình, cũng có thể sự ngang ngạnh của họ giống nhau. Cũng có thể vì Viola, con chó đực có cái tên của giống cái là gạch nối giữa họ. Và hơn hết, tôi nghĩ bà nhìn thấy được ở cô tấm lòng, cô không phải là người có thú vui hay sở thích chăm lo cho người khác, nhưng cô đã cố gắng vì cô biết yêu thương. Họ cuối cùng cũng tìm được cho mình một sợi dây nối.

Vào cái ngày mưa bão ấy, cô đã gõ cánh cửa nhà bà. Và bà đã mở cửa. Vào cái khoảnh khắc ấy, cánh cửa đã biến thành gót chân Achilles của bà, cô cũng gánh thêm một tình yêu và lòng tin mà cô không biết rằng nó vượt quá sức mình. Mối quan hệ giữa họ đã đi đến một giai đoạn mà tôi nghĩ rằng là cao trào của tất cả những gì đẹp đẽ, để rồi bắt đầu rơi. Cô nhà văn là que diêm duy nhất bà cho phép bật lên thắp sáng những ngõ ngách trong pháo đài cuộc đời bà, soi rọi những vết thương và những nỗi ám ảnh, những chua chát đắng cay. Phần yếu đuối mong manh nhất và tất cả lòng tự trọng của bà đặt vào tay cô. Để rồi vào giờ phút quan trọng nhất của đời mình, cô đánh rơi que diêm để nó biến thành ngọn lửa.

Sự thật là một cánh cửa. Ta không thể lường được mọi thứ vào cái giờ phút ta mở nó ra. Thế giới này vẫn còn đẹp bởi vì người ta vẫn còn những cánh cửa đóng kín và giữ gìn những bí mật của mình. Đó là cái quyền duy nhất mà người ta có được khi bị tước hết các quyền làm người khác : quyền được im lặng. Emerenc dùng toàn bộ cuộc đời mình để xây dựng nấm mồ cho những bí mật ấy, pháo đài cho những vết thương ấy. Đến ngày nó bị khai quật, bằng một nhát búa đập vào cánh cửa, như một nhát dao đâm xuyên bộ áo giáp để cắm phập vào tim, đau đớn, cuộc đời bà cũng chấm dứt.

Người ta vẫn đi tìm sự thật, dù người ta biết sự thật tàn nhẫn và đắng cay. Cũng như người ta sẽ yêu dù biết yêu thương là hủy hoại. Tôi không trách cô nhà văn, dù cô đã phạm lỗi không thể cứu vãn, nhưng tôi biết Emerenc sẽ không bao giờ hối hận vì đã yêu và thương cô, đã chia sẻ pháo đài đời mình với cô. Xét cho cùng, bà cũng có nhu cầu được thấu hiểu và chia sẻ, bà cũng không muốn sống mãi trong bộ áo giáp của loài giáp xác. Chỉ là bà không giữ lại được cho mình chút kiêu hãnh cuối cùng khi lìa thế giới. Thôi thì cũng coi như bà đã dùng nó để đánh đổi lấy tình yêu.

Camille và Paul

Tại sao ta lại muốn biết về cuộc đời của những người khác?

Vậy đó, ta đâu thể sống giùm cuộc đời của người khác, ta cũng không thể sống cuộc đời mình giống hệt họ, theo cách mà họ chọn? Nhưng ta vẫn có nhu cầu được biết về những cuộc đời khác, như một cách đi tìm về cội nguồn ngọn lửa đã thắp sáng thế gian và nhân loại, thứ chất liệu đã nuôi dưỡng niềm cảm hứng đã lan truyền khắp nơi, lúc âm ỉ, lúc sục sôi nhưng chưa bao giờ bị lãng quên. Đó là cách mà con người đã nương tựa vào nhau để gìn giữ cho ngọn lửa - đam mê không bao giờ tàn lụi.

Tiểu sử không phải là một thể loại cuốn hút gì. Dù người ta cần biết về nhau nhưng không mấy ai quan tâm đến những người xa lạ. Camille và Paul của nhà Claudel không phải ai cũng biết. Tôi cũng không biết gì về họ cho đến khi đọc cuốn sách này. Nhưng bằng cách nào đó họ đã khắc tên mình vào tâm khảm những người yêu nghệ thuật trên thế giới : Camille là điêu khắc gia còn Paul là thi sĩ. Hai tâm hồn chung nguồn cội hun đúc nên hai ngọn lửa đam mê vĩ đại rực sáng như bản mệnh của họ : mặt trời. Camille là mặt trời cuối đông và Paul là ánh sáng mùa hè lúc chính ngọ. Cả hai hoang dã và vô cùng nhạy cảm với cái đẹp dẫu có đi theo hai xu hướng khác nhau. Cô chị yêu cái đẹp của thực thể, cái đẹp có thể nhào nặn và chạm đến còn cậu em yêu những cái đẹp trừu tượng mơ hồ trong tâm tưởng. Nhưng đó đều là những cái đẹp mà thế giới hướng đến, chỉ có thể được sản sinh ra từ trái tim đầy nhiệt huyết nồng nàn say đắm, từ sự kiêu hãnh bất chấp và can đảm dấn thân đến cùng, không bao giờ hối tiếc.

Cuốn tiểu sử không kể lể về cuộc đời họ theo cách mà Wiki đã làm. Dominique Bona không kể theo kiểu dẫn đường chỉ lối bằng một bản đồ, mà cô chọn lối đi vào cuộc đời họ theo cách mà những dòng suối nhỏ len lỏi vào khu rừng đời mình, nghe tiếng rì rào của lá cây, tiếng xào xạc của gió để hiểu ra mọi nhẽ. Camille và Paul tuy cùng huyết thống và tâm tính nhưng trên thực tế họ đã chọn cho mình những lối đi rất khác nhau và ngày càng xa nhau. Nếu chỉ nhìn một khu rừng trên bình diện chung với những phác thảo khúc chiết, ta sẽ không bao giờ biết được mối dây đã gắn kết họ đã bền chặt đến như thế nào, bởi nó là những mối dây chị hiện hữu trong tâm trí của những người trong cuộc, họ không thế hiện và không cần chứng minh với thế giới làm gì. Hai con đường dẫn đến hai kết cục trái ngược nhau, nhưng Paul và Camille mãi mãi vẫn là hai ngọn lửa sinh ra từ làng Villeneuve của vùng đất Tardenois hoang dại, không bao giờ quên nhau.

Bởi vì họ là lửa, nên họ bùng cháy mỗi khi gặp gió lên. Những cơn gió đam mê từ bốn phương tám hướng thổi tới, cuốn Camille và Paul vào cơn lốc của những khát khao điệp trùng, mãnh liệt không giới hạn. Lửa thắp sáng cuộc đời và lửa cũng thiêu rụi cuộc đời. Tại thời điểm quan trọng ấy, lúc ngọn cuồng phong mang tên tình yêu thổi tới với cả hai, rốt cuộc chỉ có Paul là vượt qua được, để duy trì cho mình một ngọn lửa vừa phải cho đến cuối đời, đủ để thắp sáng cuộc đời ông với những vinh quang đủ đầy trọn vẹn. Còn Camille, bản tính hoang dại và bướng bình của bà không cho phép nhượng bộ, để rồi bất chấp tất cả lao vào kiên định ngang tàng và bị hủy hoại. Một nửa cuộc đời bà sống trong âm thầm tàn lụi, tất cả những gì bà có thể làm được vào nửa sau chỉ là nỗi buồn và tiếc nuối khắc ghi lên trái tim cậu em trai của mình : Paul.

Những tác phẩm của Camille thực sự rất đẹp và ấn tượng. Những khối đá đầy linh hồn và tâm trạng. Tôi đặc biết thích tác phẩm Điệu Valse, với khối đá đen chạm khắc hai người đang say mê trong một giai điệu quyến rũ, những nếp gấp trên váy buông lơi và toàn thân họ nghiêng chênh vênh trong một cảm giác mất thăng bằng nhưng neo lại bởi một điểm nhấn ở eo, nơi tay người đàn ông quàng qua và kéo cô gái lại về phía mình. Camille không quan tâm gì đến âm nhạc, nhưng cô bắt được linh hồn của giai điệu, tự nhiên như nó xuất phát từ bản thân mình. Camille là người phụ nữ như thế, cô đi theo tiếng gọi của bản năng trọn vẹn từ đầu đến cuối, cô chưa từng phản bội nó bao giờ. Cô có thể không tin ai, kể cả chúa. Nhưng cô tin bản thân mình và chấp nhận để nó hủy hoại.

Điểm duy nhất khác biệt giữa Paul và Camille là Đức tin. Paul có lòng tin vào chúa, lòng tin đã neo ông lại bên bờ vực để quay đầu, trở về với cuộc sống thường nhật điềm đạm, giấu ngọn lửa của mình vào trong tâm khảm, học cách chan hoà với đám đông như một kẻ cô độc hạnh phúc. Ngọn lửa của Paul chỉ trào ra qua thơ và những vở kịch như một cách giải phóng tâm trí. Phần lớn cuộc đời Paul dấn thân vào con đường chinh phục những xứ sở mới bằng công việc của một nhà ngoại giao tầm cỡ, băng qua những cuộc thế chiến để yên bình sống đời điền viên vào cuối hành trình. Một con đường bằng phẳng đẹp đẽ. Một ngọn lửa đã không cháy hết lòng nhưng cũng làm được phận sự của nó.

Ba mươi năm cuối đời. Camille héo tàn trong viện tâm thần, sự nghiệp của Paul lên cao nhu diều, đường hoạn lộ thênh thang. Ba mươi năm ấy họ gặp nhau chỉ mười bốn lần. Vậy mà mối dây của họ không bao giờ đứt . Phút lâm chung họ gọi tên người kia. Paul là người duy nhất hiểu Camille và đứng về bà, dù chỉ trong tâm tưởng. Còn Camille bà chính là ngọn lửa mà Paul đã giấu trong lòng mình để sống cuộc đời phẳng lặng. Họ sống song hành bên nhau trong cuộc đời xa cách, như sống với chính bản năng mạnh mẽ nguyên thủy của bản thân mình, thứ bản năng rực rỡ của dòng họ Claudel.

Chúc bạn tìm được ngọn lửa của mình, nếu cần cuốn sách này sẽ cho bạn một ít ánh sáng của nó để thắp lửa. :)