Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

Alex

Trinh thám Pháp quả là rất khác biệt. Nó che phủ mọi sự giật gân bằng một nỗi buồn bàng bạc, một chút uể oải chán chường cộng rất nhiều niềm uất hận không nói nên lời. Thành thử nó không dắt ta đi tìm công lý dù có vẻ thế, nó là một hành trình đi sâu vào cội nguồn của bi kịch, một cuộc truy tìm nỗi đau và truy đòi được gột rửa. Pierre Lemaitre thổi bùng lên ngọn lửa qua khe hở của vết thương sâu kín quay quắt trong cõi lòng để tạo nên một câu chuyện tối tăm với chồng chất đau thương, và những nỗi cô đơn chia đều cho tất cả các nhân vật.


Đọc Alex không dễ, nhất là đối với những người nóng nảy muốn đi tìm sự thật, muốn soi rọi, muốn bóc trần, vạch mặt. Cuộc đời không phải là một củ hành để ta bóc hết sẽ tìm thấy lõi. Mỗi cảnh đời chứa đựng một chuỗi dài ký ức, mỗi hành động là một mắt xích trong chuỗi vô tận những lý do quàng xiên ngang dọc đâm vào từng số phận. Không có ai tuyệt đối là thủ phạm hay nạn nhân, nên chẳng ai có quyền phán xét. Mỗi hành động đều là mỗi nỗ lực nhằm tẩy xoá và gột rửa tâm hồn, cố gắng triệt tiêu những ám ảnh và bằng mọi giá xoa dịu những vết thương. Alex, cô gái vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm. Thanh tra Camille Verhoeven, người đi tìm công lý để bù đắp cho nỗi đau mình gánh chịu. Cả hai người họ đều đi đến kết cục với một nỗi bàng hoàng rằng không bao giờ mình có thể tìm được kết thúc.

Một quyển trinh thám hay, với tôi, nó không bao giờ là câu chuyện hai năm rõ mười. Đó chỉ là trò lừa bịp dành cho trẻ con. Thế giới này phức tạp và u sầu hơn thế. Và rắc rối chằng chịt như tơ nhện, đến mức không ai có thể tách bạch được điều gì. Công tư phân minh chỉ là truyền thuyết, còn thực tế, đầu óc con người là một tấm lưới phong tỏa và nối liền cảm xúc, những nỗi ám ảnh từ những câu chuyện khác biệt cứ thế mà bắt tay với nhau. Thanh tra Camille lần theo dấu vết của vụ án với nỗi đau riêng cứ lần lượt nhúng chân vào mỗi suy nghĩ, lèo lái, định hướng nó. Ông cố thoát ra, cố quay đầu, cố bỏ cuộc. Nhưng càng cố nó càng bóp nghẹt đầu óc và trái tim ông. Lamaitre cứ thế dẫn người đọc và cả Camille đi hết câu chuyện kinh dị này đến sự man rợ khác, đi mãi đi mãi không tìm thấy điểm khởi đầu. Sự thăm thẳm vô cùng ấy hoá ra lại quay về an ủi được nỗi đau của ông, biện giải cho cái chết không lời giải đáp của vợ ông, rằng, mọi sự luôn có lý do của nó, rằng, truy tìm nguồn gốc nỗi đau là điều bất khả.

Quyển sách có hậu hay không, tuy bạn đọc. Với tôi, nó đã có một cái kết xứng đáng, cho một câu chuyện tăm tối bi thương và thăm thẳm đớn đau. Công lý không hoá giải được nỗi đau, trả thù không làm những vết thương khép miệng. Nhưng người ta vẫn làm thế để kỳ cọ những vết chàm mà tâm hồn bị nhúng phải, để chà rửa những ám ảnh, những uất hận, những căm hờn. Dù thế vẫn không bao giờ xóa nhòa được .Tiếng thở dài đã bủa vây trái đất này cả tỉ năm về trước. 

Trinh thám Pháp quả là rất khác biệt. Nhắc lại.

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Salammbo

Tình yêu và chiến tranh có lẽ là hai lời nguyền mà thượng đế dành cho loài người. Hai thứ vĩnh viễn kinh điển của nhân loại, không bao giờ lỗi mốt và nhàm chán. Tuy nhiên, con người luôn có quyền chọn lựa, trước cả tình yêu lẫn chiến tranh, hoặc tiến lên, hoặc phó mặc. Dù cả hai đều dẫn đến cánh cổng địa ngục của sự hủy hoại, nhưng hương vị và sự trải nghiệm của nó khác hẳn nhau, hẳn là vậy.

Flaubert đã chọn một câu chuyện cổ xưa để phác thảo ra nhân loại, một câu chuyện chứa trong lòng nó hai câu chuyện kinh điển, nóng hổi từ ấy cho đến hai mươi tư thế kỷ sau. Hai câu chuyện đan cài nhau, giật dây nhau và chia cắt nhau, hai câu chuyện tưởng như trái ngược nhưng thật ra luôn là một. Cuộc chiến tranh đẫm máu giữa Lính đánh thuê và thành Carthage, cuộc chiến mông muội đen tối đầy bản năng, và tình yêu giữa một tên thủ lĩnh đội lính đánh thuê và con gái của Pháp quan thành Carthage, Matho và Salammbo. Không kém cạnh cuộc chiến, đó là một tình yêu si mê và thù hận, say đắm và điên rồ, liều lĩnh hoang dại. Đó là tất cả những gì đại diện cho bản năng của con người, phần đen tối và thú tính nhưng cũng là phần yếu đuối nhất, mãi mãi không cởi bỏ được.


Cuộc chiến thành Carthage gây ra một cảm giác nghẹt thở, tù túng và kinh hoàng bởi sự man rợ đẫm máu của nó, như mọi cuộc chiến tranh khác suốt dọc các nền văn minh. Cùng với nó là một mạch chuyện khác, kín đáo lặng lẽ hơn, nhưng có lẽ là sôi sục hơn. Là mối tình si của Matho dành cho nàng Salammbo, một tình yêu gần như là tín ngưỡng. Và tôi nhận ra rằng, nó là thứ đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh, chứ không phải là gì khác. Hoá ra tình yêu là tội đồ, là nguyên do, là lý lẽ. Chẳng phải mọi cuộc chiến trên hành tinh này đều nhân danh tình yêu đó sao? Một thứ đẹp đẽ ngọt ngào dường ấy có thể sản sinh ra cả một thảm hoạ. Dù muốn dù không, thì đó vẫn luôn là sự thật.

Thế nên, chừng nào chúng ta còn yêu, chiến tranh sẽ luôn luôn tồn tại. Nhưng ai cần quan tâm, trái tim khi yêu mù quáng hết chỗ nói. Matho làm tôi nhớ đến Du Thản Chi trong tiểu thuyết Kim Dung, đã yêu A Tử đến mức hiến dâng đôi mắt của mình, hành động mà Bùi Giáng gọi là "triệt để mù loà đi vào sa mạc tình yêu", thì Matho cũng đã mù loà như thế, đã đi vào sa mạc tình yêu như thế, bất chấp sau lưng chàng là một cơn bão cát khổng lồ đã dấy lên từ những bước chân mình. Matho, kẻ yêu dại dột và ngu si, kẻ vượt qua cả ngàn quân và trèo qua mấy bức tường thành, chỉ để được gặp người đẹp, kẻ không đoái hoài gì đến sĩ diện và cơn giận của mình, cơn giận chưa kịp thốt ra đã vội phủ phục dưới chân nàng mà run rẩy nói lời yêu, kẻ chỉ còn nghe thấy tiếng trái tim, chỉ còn biết đến tình yêu và vị thần của lòng mình. Bản thân chàng, cơ thể chàng và tâm trí chàng chàng không thèm đếm xỉa nữa thì huống gì là nhân loại.

Chiến tranh và tình yêu đều là hai cuộc dấn thân của con người theo tiếng gọi mê cuồng của chinh phục và chiếm hữu. Đó đều là những niềm hoan lạc với cái giá phải trả không gì đong đếm được. Lời nguyền của thượng đế chính là chất độc hoan lạc ấy, thứ đã ngấm vào trái cấm trên vườn địa đàng, dẫn dắt loài người đi vào mê lộ của tình yêu và thù hận, của ham muốn và chiếm hữu. Một con đường duy nhất mà chúng ta chỉ có thể đi tiếp, đi tiếp cho đến lúc lãng quên. Trước khi đến được lúc ấy, thì hãy yêu thôi, yêu như Matho đã yêu Salammbo, trọn vẹn duy nhất, kinh thiên động địa, điên rồ bất khả. Hãy yêu như cách tận hưởng nốt những giọt thuốc độc ngọt ngào mà thượng đế đã tưới tắm trần gian. Dù sao, hãy lựa chọn cho mình một cái chết lộng lẫy nhất có thể, nếu chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài cái chết.

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Bão

Những cơn bão không cần lý do để đến trong thế giới này, nhưng nó cần những khoảng trống để sinh ra. Từ biển rộng khôn cùng hay từ lòng tử cung âm thầm của những người đàn bà, từ cõi lòng nứt toác vì những vết thương của họ hay từ nỗi chán chường khôn khuây. Bằng những cách khác nhau, người ta mang bão đến với cuộc đời, như bản mệnh, như số phận. Và bằng cách chống trả lại với những cơn bão, họ đã hoá thành những cơn bão.

Biển đã sinh ra bão như những người đàn bà đã sinh ra những đứa con, đầy sợ hãi và bơ vơ nhưng vẫn lựa chọn việc đem chúng vào đời. Bão ở đó trong nỗi ám ảnh về thân phận, trong những vết cứa của quá khứ và những vọng tưởng về ngày mai. Những người đàn bà hoá bão một cách âm thầm, mạnh mẽ và độc ác một cách âm thầm. Để những người đàn ông, những người đã xé toạc đời họ ra để gieo một cơn lốc đớn đau vào đấy, sống nốt quãng đời còn lại dưới bóng mây đen bao phủ của những gì mình gây nên, giữa điệp trùng quá khứ bủa vây và hiện tại không lời hồi đáp. Người ta không thể lấy lại được hạt mầm mình đã gieo, cũng như bão không thể quay lại chui vào đáy biển mà ngủ yên. Và bão vì thế mà đã thành một phần của thế giới, của cuộc đời, một món nợ của kiếp người và lạ thay, nó cũng chính là ý nghĩa của sự sống.

Thế gian sẽ ra sao nếu không có bão? Cũng như cuộc đời này có nghĩa lý gì nếu không có những vết thương? Thế nên năm tháng chưa bao giờ thôi chồng chất những trái ngang của nó lên mỗi số phận, và biển không năm nào quên tặng cho đất liền những trận cuồng phong. Sau tất cả, à mà không, sau mỗi giai đoạn, mọi thứ sẽ tan tác. Nhưng rồi mọi thứ cũng tinh khôi. Mỗi sự đổ vỡ đều là một cơ hội để soi rọi để thấu suốt dù là không dễ để chịu đựng. Đau đớn là chất liệu cho sự trưởng thành, người ta sẽ mạnh mẽ hơn, và dịu dàng hơn nhờ nó. Những người đàn bà hiện lên dưới ngòi bút của Le Clezio đều ngang tàng bất cần khi đối diện với bão tố và rồi đều đằm thắm và nữ tính hơn khi đi xuyên qua nó. Với ông, đàn bà là biển cả, im lặng khi người ta gieo vào lòng nó thậm chí cả một trái bom, nhưng một ngày sẽ tặng lại cho ta những cơn bão đầy bất ngờ cuồng nộ nhưng bất cần truy đòi hay giải thích. Sự nổi loạn của họ đầy ám ảnh nhưng sự nhẫn nhịn của họ thậm chí còn ám ảnh hơn, như một biển khơi phẳng lặng báo hiệu ngày bão đến.

Sau cuối, mọi cơn bão đều tan. Nó có thể cuốn về lòng biển những thứ vô nghĩa hay có nghĩa trên mặt đất nhưng nó đều trả lại cho mặt đất sự bình yên. Mọi thứ luôn có thể được phục hồi, tạo dựng. Bão là cách mà biển đòi lại món nợ cho mình, cũng là cơ hội để người ta được trả những thứ mà mình đã vay hoặc cướp đi, để cứu chuộc tâm hồn mang nhiều tội lỗi. Bão vì thế là sự tha thứ mà thượng để dành cho loài người, dẫu là mãi mãi loài người không bao giờ xứng đáng với bất kỳ một sự tha thứ nào. Nhưng vì thượng đế vẫn còn yêu thương, và vì loài người vẫn còn mong muốn được yêu mà đến cuối cùng, người ta sẽ học được cách tha thứ cho chính mình. Vì yêu, vì thế...

Camille và Paul

Tại sao ta lại muốn biết về cuộc đời của những người khác?

Vậy đó, ta đâu thể sống giùm cuộc đời của người khác, ta cũng không thể sống cuộc đời mình giống hệt họ, theo cách mà họ chọn? Nhưng ta vẫn có nhu cầu được biết về những cuộc đời khác, như một cách đi tìm về cội nguồn ngọn lửa đã thắp sáng thế gian và nhân loại, thứ chất liệu đã nuôi dưỡng niềm cảm hứng đã lan truyền khắp nơi, lúc âm ỉ, lúc sục sôi nhưng chưa bao giờ bị lãng quên. Đó là cách mà con người đã nương tựa vào nhau để gìn giữ cho ngọn lửa - đam mê không bao giờ tàn lụi.

Tiểu sử không phải là một thể loại cuốn hút gì. Dù người ta cần biết về nhau nhưng không mấy ai quan tâm đến những người xa lạ. Camille và Paul của nhà Claudel không phải ai cũng biết. Tôi cũng không biết gì về họ cho đến khi đọc cuốn sách này. Nhưng bằng cách nào đó họ đã khắc tên mình vào tâm khảm những người yêu nghệ thuật trên thế giới : Camille là điêu khắc gia còn Paul là thi sĩ. Hai tâm hồn chung nguồn cội hun đúc nên hai ngọn lửa đam mê vĩ đại rực sáng như bản mệnh của họ : mặt trời. Camille là mặt trời cuối đông và Paul là ánh sáng mùa hè lúc chính ngọ. Cả hai hoang dã và vô cùng nhạy cảm với cái đẹp dẫu có đi theo hai xu hướng khác nhau. Cô chị yêu cái đẹp của thực thể, cái đẹp có thể nhào nặn và chạm đến còn cậu em yêu những cái đẹp trừu tượng mơ hồ trong tâm tưởng. Nhưng đó đều là những cái đẹp mà thế giới hướng đến, chỉ có thể được sản sinh ra từ trái tim đầy nhiệt huyết nồng nàn say đắm, từ sự kiêu hãnh bất chấp và can đảm dấn thân đến cùng, không bao giờ hối tiếc.

Cuốn tiểu sử không kể lể về cuộc đời họ theo cách mà Wiki đã làm. Dominique Bona không kể theo kiểu dẫn đường chỉ lối bằng một bản đồ, mà cô chọn lối đi vào cuộc đời họ theo cách mà những dòng suối nhỏ len lỏi vào khu rừng đời mình, nghe tiếng rì rào của lá cây, tiếng xào xạc của gió để hiểu ra mọi nhẽ. Camille và Paul tuy cùng huyết thống và tâm tính nhưng trên thực tế họ đã chọn cho mình những lối đi rất khác nhau và ngày càng xa nhau. Nếu chỉ nhìn một khu rừng trên bình diện chung với những phác thảo khúc chiết, ta sẽ không bao giờ biết được mối dây đã gắn kết họ đã bền chặt đến như thế nào, bởi nó là những mối dây chị hiện hữu trong tâm trí của những người trong cuộc, họ không thế hiện và không cần chứng minh với thế giới làm gì. Hai con đường dẫn đến hai kết cục trái ngược nhau, nhưng Paul và Camille mãi mãi vẫn là hai ngọn lửa sinh ra từ làng Villeneuve của vùng đất Tardenois hoang dại, không bao giờ quên nhau.

Bởi vì họ là lửa, nên họ bùng cháy mỗi khi gặp gió lên. Những cơn gió đam mê từ bốn phương tám hướng thổi tới, cuốn Camille và Paul vào cơn lốc của những khát khao điệp trùng, mãnh liệt không giới hạn. Lửa thắp sáng cuộc đời và lửa cũng thiêu rụi cuộc đời. Tại thời điểm quan trọng ấy, lúc ngọn cuồng phong mang tên tình yêu thổi tới với cả hai, rốt cuộc chỉ có Paul là vượt qua được, để duy trì cho mình một ngọn lửa vừa phải cho đến cuối đời, đủ để thắp sáng cuộc đời ông với những vinh quang đủ đầy trọn vẹn. Còn Camille, bản tính hoang dại và bướng bình của bà không cho phép nhượng bộ, để rồi bất chấp tất cả lao vào kiên định ngang tàng và bị hủy hoại. Một nửa cuộc đời bà sống trong âm thầm tàn lụi, tất cả những gì bà có thể làm được vào nửa sau chỉ là nỗi buồn và tiếc nuối khắc ghi lên trái tim cậu em trai của mình : Paul.

Những tác phẩm của Camille thực sự rất đẹp và ấn tượng. Những khối đá đầy linh hồn và tâm trạng. Tôi đặc biết thích tác phẩm Điệu Valse, với khối đá đen chạm khắc hai người đang say mê trong một giai điệu quyến rũ, những nếp gấp trên váy buông lơi và toàn thân họ nghiêng chênh vênh trong một cảm giác mất thăng bằng nhưng neo lại bởi một điểm nhấn ở eo, nơi tay người đàn ông quàng qua và kéo cô gái lại về phía mình. Camille không quan tâm gì đến âm nhạc, nhưng cô bắt được linh hồn của giai điệu, tự nhiên như nó xuất phát từ bản thân mình. Camille là người phụ nữ như thế, cô đi theo tiếng gọi của bản năng trọn vẹn từ đầu đến cuối, cô chưa từng phản bội nó bao giờ. Cô có thể không tin ai, kể cả chúa. Nhưng cô tin bản thân mình và chấp nhận để nó hủy hoại.

Điểm duy nhất khác biệt giữa Paul và Camille là Đức tin. Paul có lòng tin vào chúa, lòng tin đã neo ông lại bên bờ vực để quay đầu, trở về với cuộc sống thường nhật điềm đạm, giấu ngọn lửa của mình vào trong tâm khảm, học cách chan hoà với đám đông như một kẻ cô độc hạnh phúc. Ngọn lửa của Paul chỉ trào ra qua thơ và những vở kịch như một cách giải phóng tâm trí. Phần lớn cuộc đời Paul dấn thân vào con đường chinh phục những xứ sở mới bằng công việc của một nhà ngoại giao tầm cỡ, băng qua những cuộc thế chiến để yên bình sống đời điền viên vào cuối hành trình. Một con đường bằng phẳng đẹp đẽ. Một ngọn lửa đã không cháy hết lòng nhưng cũng làm được phận sự của nó.

Ba mươi năm cuối đời. Camille héo tàn trong viện tâm thần, sự nghiệp của Paul lên cao nhu diều, đường hoạn lộ thênh thang. Ba mươi năm ấy họ gặp nhau chỉ mười bốn lần. Vậy mà mối dây của họ không bao giờ đứt . Phút lâm chung họ gọi tên người kia. Paul là người duy nhất hiểu Camille và đứng về bà, dù chỉ trong tâm tưởng. Còn Camille bà chính là ngọn lửa mà Paul đã giấu trong lòng mình để sống cuộc đời phẳng lặng. Họ sống song hành bên nhau trong cuộc đời xa cách, như sống với chính bản năng mạnh mẽ nguyên thủy của bản thân mình, thứ bản năng rực rỡ của dòng họ Claudel.

Chúc bạn tìm được ngọn lửa của mình, nếu cần cuốn sách này sẽ cho bạn một ít ánh sáng của nó để thắp lửa. :)

La Mã sụp đổ

Suy tàn rồi sụp đổ - đó không phải là lời sấm truyền hay tiên tri, đó là lời khẳng định, một lời kết cho tất cả : hành tinh này, thời đại kia, chế độ nọ hay những số phận ấy. Có gì khác nhau giữa những thứ tôi vừa kể trên? Chẳng có gì cả. Đều ra đời như thế và ra đi như thế. Bạn tưởng rằng nó gây chấn động lắm, và dư âm của nó thì dài lắm? Nhưng cũng thế mà thôi. Và vỡ mộng, đúng vậy. Chúng ta luôn có những giấc mộng tan vỡ trong cuộc đời mình.

Con người luôn ôm ấp những giấc mộng về sự vĩnh cửu, về những mầm sống bám rễ tới tận âm ti và vươn cành lên đến thiên đàng. Nhưng tất cả những gì chúng ta xây dựng được, là một thế giới bằng cát, trên nền cát để chờ đợi một ngày sóng đến cuốn trôi. Câu chuyện này được dựa trên một bài giảng của Saint Augustin, về sự sụp đổ của một nền văn minh vĩ đại : La Mã. Và con người, hạt cát nhỏ trong bức tường thành đồ sộ nhưng rốt cuộc cũng bằng cát đó, rồi cũng sụp đổ và lụi tàn. La Mã là sự phóng chiếu của thế giới, của những nền văn minh, của những tinh cầu được hình thành rồi nổ tung ở đâu đó rất xa xôi trong vũ trụ. Nhưng La Mã cũng là sự phóng chiếu của những tâm hồn người bé nhỏ, mong manh sinh ra lớn lên rồi chờ đợi ngày cáo chung của số phận. Chỉ có những giấc mơ là bồng bềnh trôi theo thời gian, chỉ có những giấc mơ, như những đợt sóng xô cứ tràn lên bờ rồi tan đi, lớp này, lớp khác, mải miết...

Matthieu và Libero là những người trẻ tuổi ôm ấp giấc mơ nhào nặn nên một thế giới của riêng mình. Nhưng Paris quá rộng lớn và văn minh để kiểm soát. Họ quay về đảo Corse, hài lòng với một thế giới nhỏ hơn trong một quán bar. Họ hồ hởi xây dựng một địa đàng với những lạc thú êm dịu của trần gian. Họ cứ ngỡ rằng có một nơi như vậy cho họ, một nơi mà tất cả đều đặn diễn ra trong nhịp điệu êm ái mãi mãi, không biến động, không sóng gió. Không chỉ họ, mà tất cả những nhân vật trong cuốn sách này, là Aurelie, Claudie, Jacques và Marcel, đều đi tìm cho mình một chốn nương náu giữa cuộc đời, nơi họ tin mình thuộc về, bám rễ và trường tồn. Cuộc đời là những cuộc đi tìm mải miết, đầy hứng khởi thuở ban đầu và tuyệt vọng những lúc về sau, để rồi nhận ra rằng, mọi thứ cuối cùng sẽ sụp đổ.

Nhưng sự sụp đổ không phải lỗi của vùng đất ấy. Không có một nơi chốn nào được vĩnh cửu tồn tại một khi nó được khai phá. Nói cách khác, bằng việc gieo mầm sự sống cho bất cứ một điều gì, thì người ta cũng đã đồng thời gieo vào nó một chất độc. Paris hay đảo Corse không hủy hoại Matthieu và Liberto. Họ đã hủy hoại chính mình. Chất độc của hoan lạc, của sợ hãi, của si mê đã khởi sinh trong họ từ biết bao thế hệ trước, từ đời của Marcel truyền xuống cho Jacques và Matthieu. Những nỗi buồn và niềm vui, sự nuối tiếc vô vọng và chìm ngập trong nỗi ám ảnh về sự vĩnh cửu, nó là thứ chất độc gặm nhấm mòn tâm hồn, là những mạch nước ngầm tràn vào đục ruỗng chân những lâu đài trên cát, chỉ chờ một đợt sóng xô tới là đủ tan hoang. Và thực tế, nó đã tan hoang biết bao lần, một cách thản nhiên như chưa hề có gì khác. Sụp đổ, vốn là một phần của thế giới này, cuộc sống này. Và tan vỡ, luôn là số phận của những giấc mơ ấy.

Thế mà, bằng cách nào đó, thế giới vẫn hồi sinh. Từ tro tàn, từ cát lạnh, từ một thế giới đã chìm lấp đâu đó dưới lòng đất. Và những giấc mơ, cứ vỡ tan hoang cả trăm nghìn bận cũng cứ mãi còn, như sóng biển không biết khởi nguồn từ đâu đó ngoài kia, cứ mãi mãi dồn dập vào bờ, dẫu biết khi đến sẽ chẳng còn lại gì ngoài những loang nước lạnh. Cuộc sống cứ thế xây dựng trên nền của chết chóc, lụi tàn. Và con người, tuy hoang mang vô kể trước sự mong manh của sự sống, thì vẫn sống với lòng mong được sống, bởi giấc mơ ấy vẫn còn mãi để tưới tắm cho những hạt mầm chôn sâu dưới lớp tro tàn. Cuốn sách là một nỗi muộn sầu nhưng cũng có thể xem như là một lời an ủi.

Ba phụ nữ can đảm

Nếu bạn cần thêm sức mạnh, hoặc sự an ủi sẻ chia, thì đây là cuốn sách dành cho bạn. Dù rằng văn phong nó không dễ đọc, và câu chuyện nó bi thương, nhưng nếu bạn đọc kỹ, mọi câu mọi chữ trong cuốn sách sẽ thấm vào bạn, đầu tiên là nỗi buồn, sau đó mới là lòng can đảm, như một thử thách tất lẽ dĩ ngẫu của cuộc đời, mọi thứ chỉ có thể đến khi ta hết lòng tìm kiếm.

Marie Ndiaye có một văn phong cực kỳ lạ. Mỗi đoạn văn giống như một giọt mực rơi xuống giấy rồi lan tỏa xung quanh, bủa vây những cảm xúc từ hiện tại đến quá khứ, từ nơi này trôi dạt đến nơi kia; như một con nhện giăng cái lưới mắc míu nỗi sầu của mình trong từng hốc nhà tăm tối. Tôi đọc những đoạn văn dài lê thê, ngắt nhau bằng nhiều dấu phẩy nhưng rất hiếm khi có một dấu chấm, càng đọc càng bị buông chùng xuống bởi vô vàn cảm xúc đè lên, như nỗi lòng tuôn trào tuôn trào chỉ dừng lại thở dốc và rồi tiếp tục tuôn ra. Cuộc đời càng từ đó gia tăng sự nghiệt ngã của mình lên từng số phận. Cho đến cuối cùng, nó vẫn tiếp tục như thế, không đẹp hơn lên, không bớt tàn độc hơn, dửng dưng như là chính nó.

Ba câu chuyện trong cuốn sách này không liên quan gì đến nhau. Mối liên hệ giữa họ là màu da, đất nước Senegal và Pháp. Ba số phận bi kịch, trôi dạt từ nước này sang nước khác, lạc lõng, côi cút, hoang mang trong sự và chạm của hai nền văn hoá. Nhưng đây nhất định vẫn là một cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh, trọn vẹn chứ không phải là tuyển tập truyện ngắn, dù nó cũng không kể hết mọi thứ về cuộc đời, số phận của từng người. Nó chỉ là những lát cắt, phơi ra những mảnh đời với những vết thương chồng chất theo tháng năm, những khoảng trống không ai bù đắp được. Norah, Fanta, Khady, ba người phụ nữ đi qua hết biến cố này rồi biến cố khác, chiến đấu giành cho minh trái tim với nhịp đập bình thường, chống lại những tổn thương mà cuộc đời có vẻ quá ưu ái dành cho. Mỗi biến cố ập đến là mỗi lần họ đau đớn vật vã, nhưng họ chưa từng gục ngã.

Tôi đọc được trên một chiếc ghế đá dòng chữ : Can đảm không phải là không sợ hãi, mà là vượt qua nỗi sợ hãi. Đó chính là lòng can đảm của những người phụ nữ, không còn cách nào khác phải đối diện với cuộc đời, nhìn thẳng vào nỗi nghiệt ngã dửng dưng của nó mà bước tiếp. Họ chông chênh, thiếu thốn, lẻ loi. Nhưng họ vẫn chống chọi đến cùng và giữ cho mình một trái tim mạnh mẽ bất khả xâm phạm. Đó, là tất cả những gì mà cuộc đời trao trả cho họ, đổi những vết thương để lấy sự kiên cường.

Cuốn sách này không đòi hỏi gì về sự bình đẳng, cũng chẳng có tuyên ngôn nữ quyền nào ở đây. Và những người đàn ông trong cuốn sách này, tuy bạc nhược, ích kỷ, hèn hạ, nhưng chưa bao giờ những người phụ nữ ấy thôi mong chờ một người để tựa nương. Họ chưa từng quy nạp rồi kết án đàn ông, dù những người đàn ông họ có thật là quá tệ. Tất cả những gì họ muốn, là được quyền yếu đuối để được chở che, được sợ hãi bỏ cuộc mà vẫn còn con đường lùi, được làm một người phụ nữ đúng nghĩa bên cạnh một người đàn ông đúng nghĩa. Can đảm, là lựa chọn cuối cùng khi không còn gì để chọn.

Sức mạnh đến từ cuộc đời, nếu bạn còn muốn tồn tại giữa cuộc đời này, bạn sẽ tìm ra sức mạnh. Đó là những gì cuộc đời đáp trả cho bạn, để nói với bạn rằng, nếu tất cả mọi ngả đường đều bị chặn  nó luôn chừa cho bạn một lối đi, là tiến thẳng lề phía trước. Và thậm chí con đường đó cũng không còn, như Khady, cô vẫn còn bầu trời để ngắm, trái tim thanh thản nhẹ nhõm đập trong những giây phút cuối cùng, để nhận ra cô chưa bao giờ thôi yêu cuộc đời. Cuộc đời, vì vậy cũng yêu ta, tuy là không theo cách mà ta muốn.

Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối

Tôi đã đọc cuốn sách rất mỏng này tới hai lần, thì mới cảm nhận được nó. Nó chẳng phải là một cuốn sách khó hiểu và đánh đố gì đâu, nhưng bạn biết đấy, có những con phố bạn phải dạo tới dạo lui vài lần thì mới nhận ra rằng nó đẹp, bởi nó không phải là một con phố phô trương cuốn hút ngay phút đầu tiên. Nó lặng lẽ bình thản với cảm giác về một vùng mà trong cuốn sách này gọi là vùng trung tính. Nó lấp lửng, nửa chừng với những khoảng trống. Và đột nhiên tôi nhận ra, chính những khoảng trống ấy, nó mới là câu chuyện mà tôi đọc được.

Đôi khi ta đọc một cuốn sách, và hiểu nó không phải bằng những dòng chữ hiển hiện, không phải bằng những ký ức rõ nét mà các nhân vật kể lại mà chính bằng những gì mà họ đã quên, đã cố tình quên hoặc không biết rõ. Modiano lại có cái kiểu viết đánh lạc hướng bằng cách zoom kỹ vào những khung cảnh hay những đồ vật không mấy ý nghĩa, cố tình lờ đi một bối cảnh khác mới thực sự là trọng tâm, bằng cách ấy, ông kể một câu chuyện, vốn rất hiện thực, bỗng trở nên hư ảo. Và cái bầu không khí của cuốn sách bởi vì thế mà hiện lên với một vẻ thờ ơ bao phủ, với rất nhiều nỗi hoang mang mà lần đọc đầu tiên tôi cảm thấy. Cái cảm giác hờ hững không mấy bận tâm về những thứ đã trôi qua áy khiến tôi nghĩ rằng mình đã bỏ qua một điều gì đó. Phải rồi, tôi đã quên những khoảng trống.

Những khoảng trống trong cuốn sách này kể cho bạn nhiều điều, miễn là bạn đủ nhẫn nại ngắm nghía chúng. Bạn sẽ thấy ở đó một Paris vô danh  không có ánh đèn màu rực rỡ, không có văn chương hội họa nghệ thuật, một Paris trống rỗng hoang mang không biển chỉ đường, Paris của tuổi trẻ lạc lối. Bạn sẽ thấy ở đó nỗi vô vọng chán chường của một chàng sinh viên trường Mỏ vô danh, dù anh ta không bao giờ kể về mình mà chỉ tập trung nhớ về hình ảnh của một người khác. Bạn sẽ hiểu vì sao thám tử Caisley chấm dứt việc điều tra, như một cách buông tha cho những số phận lạc trôi, để yên cho họ trôi dạt. Bạn sẽ thấy nỗi mặc cảm hoang mang, sự chán ngán cuộc đời của Louki- jacqueline trong cái dáng ngồi thẳng lưng và phục trang chăm chút của cô, sẽ thấy sự cô độc của Jannette, sự thờ ơ của Roland, thấy cái mãnh liệt của tình yêu như chiếc phao cứu cánh cuộc đời tất cả dù chẳng ai buồn nhắc tới. Những khoảng trống ký ức mà người ta, để có thể tha thứ cho chính mình mà sống tiếp, người ta đã cố tình quên. Tuổi trẻ, những chân trời đã mất.

Tại sao người ta nhớ nhung tuổi trẻ? Có phải vì những vết thương đầu tiên của cuộc đời sẽ mãi mãi không lành, có phải vì giấc mơ mới chớm đã tan nhanh như bọt nước, có phải vì những nẻo đường luôn luôn ở đó với vẻ lãnh đạm ơ thờ. Có phải vì vậy mà tuổi trẻ sẽ chiếm cư một khoảng mênh mông trong ký ức mỗi người, dù có tẩy xoá bao nhiêu thì nó vẫn chiếm từng ấy chỗ, không chia sớt được. Cho đến khi bạn tẩy xoá hết tất cả, nó vẫn ở đó dưới hình hài của một tiếng thở dài.

Alain nói về hạnh phúc

Đây là một cuốn sách xứng đáng được đặt trang trọng trên kệ sách, để vào những ngày khi tâm trạng tồi tệ, khi cảm hứng dành cho cuộc sống tụt xuống dưới tận gót giày, thì bạn hãy lôi nó ra, mở một bài bất kỳ - ngắn thôi, mỗi bài có vài trang, rồi đọc. Và bạn sẽ nhanh chóng tê tái một cú- cái cảm giác bị noi trúng ngay tim đen, oà lên một cái thiệt ngỡ ngàng, Alain là ông nội nào mà hiểu ta quá vậy? Nhưng ối trời, ông ấy nào biết bạn là đứa nào, còn những chuyện này, ông ấy đã nói từ gần 100 năm về trước.

Ông ấy là ai thì bạn đọc sách đi rồi biết, giới thiệu đầy đủ kỹ càng. Nhưng ông ấy là ai thì có gì là quan trọng, cái chính là những gì ông ấy viết kìa. Gần 100 năm mà ông ấy nói đúng hết trơn những gì đang diễn ra trong cái tâm trạng bết bát của chúng ta, thì có vẻ nhân loại cũng chưa tiến bộ được bao nhiêu đâu nhỉ. Chúng ta cứ mãi mãi đày đọa chính mình, nên mãi mãi phải uống thuốc của ông ấy kê toa thôi. May phước là cũng không phải sơn hào hải vị sâm nhung gì, toàn những thứ có sẵn trong tủ lạnh của mỗi người. Có sẵn hết ấy mà không biết chế biến thôi.

Đừng nghe tui nói vậy mà tưởng đây là sách ẩm thực dạy mấy món bổ thận tráng dương nhe. Hạnh phúc đâu có đơn giản thế, và hạnh phúc đâu thể công thức hoá được như thế. Cũng vì vậy mà tui từng ái ngại không biết có nên đọc cuốn này không, vì vẫn nghĩ rằng, hạnh phúc của mỗi người không giống nhau, mà đã không giống nhau rồi thì có gì chung để mà Alain phải nói? Ấy vậy mà có đấy.

Không có một chuẩn hạnh phúc nào cho tất cả chúng ta, nhưng có một ngưỡng hạnh phúc chung, có thể đúng với ra đại đa số, đó là thứ hạnh phúc khi thoát khỏi được nỗi đau khổ. Và theo đó, cuốn sách này không chỉ nói về hạnh phúc, nó còn nói về đau khổ. Và Alain không đem lại cho bạn niềm hạnh phúc của ổng, ông chỉ cho bạn cách thoát khỏi nỗi buồn và nuôi nấng niềm vui- của chính bạn. Nói nôm na một cách dễ hiểu thì ông ấy không đem đồ ăn cho bạn, ông ấy chỉ cho bạn cách xào nấu những món có trong vườn của mình. Hạnh phúc và đau khổ là hai mầm cây có sẵn trong tâm hồn mỗi người. Đau khổ dễ sống nên phát triển nhanh hơn, hạnh phúc khó khăn hơn nên phải tưới tắm chăm bón hết mình. Nói vậy để biết, cái vườn ấy ra sao là do bạn.

Đọc xong cuốn này, dù cái vườn của tui không ngay lập tức mà tưng bừng hoa nở hẳn lên, nhưng ít nhất tui cũng đã làm một việc đầu tiên là cầm cái xẻng, nhổ một ít cỏ, tưới một ít hoa. Không có gì là muộn vì hạnh phúc nó không nằm ở một vị trí cố định để bạn vạch kế hoạch lao tới, nó nằm trên hành trình ta đi, trong niềm vui và thỏa mãn của sự lao động. Hãy bắt đầu đi, niềm tin của sự bắt đầu bản thân nó cũng là một hạt mầm hạnh phúc rồi đó.

"Tôi chúc bạn nhiều niềm vui. Đó mới đúng là thứ cần trao đi và nhận lại. Đó mới đúng là phép lịch sự đích thực khiến mọi người đều phong lưu, trước tiên là cho chính người đi tặng. Đó mới đúng là kho báu mà càng được trao đổi bao nhiêu càng được nhân lên bấy nhiêu. Bạn có thể rải nó khắp phố phường, trên toa xe điện, hay trong các quầy báo : nó sẽ không vì thế mà suy suyễn đến một nguyên tử. Bạn vứt nó ở đâu, nó sẽ mọc lên và trổ hoa ở đấy."

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Người tình

Đây là một cuốn tiểu thuyết rất kỳ lạ. Mỏng, ngắn nhưng lại biết khơi gợi người đọc tới với rất nhiều thứ cảm giác. Bồn chồn, khắc khoải, uể oải, mãnh liệt, nồng nàn lẫn cả chán chường. Thứ cảm giác tồn tại trong một bầu không khí nóng ẩm hừng hực nhiệt đới, rực rỡ của thanh xuân lẫn rực rỡ của phai tàn. Những nhân vật sống hết mình với tình yêu nhưng mang trong mình một nỗi u uất sầu muộn đến rã rời, không đủ sức đi tìm cho nhau một tương lai hứa hẹn. Và xứ sở nơi họ gặp nhau , miền đồng bằng nhiệt đới phù sa với những ngã rẽ mênh mông sông nước, giống như chính mạch truyện, cứ dẫn người ta đi theo dòng hoài niệm miên man, trôi xuôi ký ức để tìm lại miền nhớ xanh thẳm đã bồi lở theo thời gian với những khoảng trống thênh thang thinh lặng.

Cô mười lăm tuổi. Khuôn mặt và thân hình non nớt nhưng tâm hồn già cỗi hơn thế rất nhiều. Có thể ở cái xứ sở nhiệt đới nóng ẩm này, tâm hồn của người ta bị thiêu đốt nhiều hơn , bằng những nỗi sợ hãi, mông lung, bằng sự xa lạ. Nhưng trên chuyến phà Vĩnh Long- Sa Đéc năm ấy, cô đã tìm thấy một người đàn ông của cuộc đời mình, dù cô không nhận ra. Người đàn ông thuộc về xứ sở mà cô muốn rời bỏ, người đàn ông khác màu da, khác địa vị và khác luôn cả giai cấp. Người đàn ông đã yêu cô từ cái nhìn đầu tiên, yêu say đắm và tuyệt vọng cho đến tận cuối đời.

Họ đến với nhau. À không, họ lao vào nhau. Giống như thác lũ, giống như đập nước vào ngày mở chắn. Họ thả mình vào cơn lốc dục vọng để lãng quên. Lãng quên nỗi đau không thốt nên lời, lãng quên sự bất lực tuyệt vọng của mình, sự héo úa tàn phai của tuổi thanh xuân đã hằn lên tim họ, lãng quên cuộc đời, lãng quên thời gian...

Cô còn quá trẻ để nhận diện tình yêu. Cô nghĩ mình đến với anh vì tiền, vì tình dục. Cô không biết rằng cái anh mang đến cho cô không chỉ có chừng đó. Dù anh không thể giữ cô đến cùng, dù anh yếu đuối, hoang mang, không bảo vệ cô trước danh gia vọng tộc của mình, nhưng anh đem đến cho cô cảm giác bình yên, nơi nương náu trong cuộc đời buồn bã của mình. Cô không biết rằng được ở bên nhau trong cảm giác yên ả, thanh thản êm đềm, là đã được ở trong tình yêu...

Cuốn sách không dễ đọc. Nó trúc trắc , lấp lửng, bỏ dở nửa chừng. Nó như những nhánh sông ở miền Tây, bất thần rẽ ngang, bất thần đổi dòng. Nó để lại những khoảng trống hoang mang trong lòng người đọc, vất vả đi tìm cách xâu chuỗi các sự kiện rồi phỏng đoán, nghi ngờ. Nhưng theo mạch văn và bút pháp nồng nàng của Marguerite ta mặc lòng để những sự kiện không trọn vẹn trôi xuôi, thả mình vào ký ức đầy biến động, đầy ngọt ngào và u uất của những con người trong câu chuyện. Mặc lòng chấp nhận những khoảng trống bí hiểm không lời giải thích đó như chấp nhận một kỷ niệm đã không còn hình hài rõ nét, đã bị bôi xóa theo tháng năm, chỉ còn lại hương vị nồng nàng gợi cảm của nó, phảng phất , quấn quýt, lay động...

Marguerite Duras đã kể câu chuyện của đời bà, câu chuyện tình xốn xang nồng nàng đầy nhục cảm. Nhưng người ta nói rằng, anh không phải là nhân vật chính, cô cũng không phải là nhân vật chính. Nhân vật chính của câu chuyện chính là cái xứ sở, nơi cô và anh gặp nhau. Là miền đất mênh mông sông nước, những cơn gió, những cơn mưa nhiệt đới, những mùa nắng ngột ngạt, những triền sông xanh thẳm. Nơi cô dù muốn bỏ đi, vừa không thể nào phủ nhận được nó đã tạo nên chính cô bây giờ. Miền đất đã cho cô cái vẻ đẹp của nó, sự ngây thơ, sự nồng nhiệt, sự uể oải, sự cô độc hoang hoải của nó. Duras đã trả lời tuần báo Le Nouvel Observateur về cuốn sách, về Việt Nam thế này: “Tôi không thể giải thích được rõ rệt tại sao, chỉ cảm thấy nơi chốn chào đời ấy, với tuổi thơ và tuổi trẻ của tôi ở đó, càng về cuối đời càng trở thành một hiện tại sáng rỡ trong tôi, như đó là bản mệnh tôi, như chính phần đời xa thẳm ấy tạo ra tất cả những phần đời của tôi sau đó. Và điều lạ lùng, cuốn sách này còn như sự chiếu sáng, một cắt nghĩa cho tất cả những cuốn sách tôi đã viết ra”…  

Bay đêm

Nếu như có một cái chết nào được gọi là nên thơ, thì đó là cái chết giữa bầu trời bao la. Dĩ nhiên, chuyện đó chỉ xảy ra khi bạn đang bay. Bay một cách chủ động chứ không phải ngồi trong cái khoang thấp tè dài sọc đợi giờ đáp xuống đường băng :D

Trong cuốn Nam tước trên cây của Italo Calvino, chàng Nam tước Bóng Râm cũng chọn cho mình một cách ra đi như thế. Như cánh chim khuất nẻo, như một vì sao tắt lịm giữa thinh không. Cái chết- hay là sự kết thúc của chàng để lại cho câu chuyện một dư âm mạnh mẽ về sự nhẹ nhõm và thanh thản, sự kỳ diệu của cuộc đời và sự êm ái của lời giã biệt.

Bỗng dưng tui nghĩ về Saint Exupery, về những người đàn ông sống hầu hết cuộc đời trên bầu trời, ngắm thế giới rộng lớn bên dưới qua cánh cửa máy bay. Cảm giác đó thật tuyệt vời. Những cánh đồng mênh mông, những thung lũng bát ngát, những thành phố dát đèn màu vương vãi những hạt ngọc lấp lánh của mình. Mọi thứ trở nên kỳ diệu khi ngắm từ xa, khi nhìn tổng thể. Và tự dưng tất cả những nghĩ suy đều trở nên phổ quát, chiêm nghiệm.

Nhưng cùng với nó là cảm giác đơn độc.

Nghề phi công, nhất là phi công của Không Bưu là một nghề hết sức đơn độc. Không có ai sát cánh cùng ta ngoài những kiện hàng những lá thư câm lặng. Và bầu trời lúc đêm đen dù muôn vàn ngôi sao sáng thì cũng không có một tiếng vọng nào đến từ phía ấy. Chỉ có những cơn gió ngút ngàn lồng lộng, chỉ có những cơn bão cát , chỉ có sự sợ hãi của chính mình vây chặt lấy mình, bóp nghẹt cả trái tim .

Exupery viết về những người anh hùng bình dị, những người đã vượt qua phong ba, vượt qua bão táp và vượt qua sự sợ hãi bình thường của con người để đeo đuổi nghiệp lái máy bay. Để sống và chết trên bầu trời , như một ngôi sao vụt tắt vào sớm mai yên ả

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

Cuộc sống ở trước mặt

Cuộc sống, nó không phải là thứ dành cho tất cả mọi người. Momo đã rút ra kết luận như thế. Nhưng cuộc sống vẫn dành cho cậu, vẫn dí trước mặt cậu cái bản mặt thê thảm của nó, mà dù muốn, dù không cậu cũng phải đối diện, phải nếm trải bằng tất cả các giác quan. Vì Momo vẫn phải sống.

Những khi tôi cảm thấy đời mình ngập tràn bế tắc, tôi hay nghĩ về Momo, cậu bé Ả Rập lớn lên trong vòng tay một người đàn bà Do Thái đã giải nghệ làm gái đứng đường, về những gì mà cuộc sống dành cho cậu, để thấy rằng, mình thật là may mắn vì không có những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, những thứ đủ sức biến cuộc đời họ thành vũng lầy nhớp nháp mắc míu và đớn đau, như nỗi ám ảnh không bao giờ rũ bỏ nổi.

Trong vũng lầy của cuộc sống, một tình yêu bám rễ như một lý do níu kéo sự tha thiết với cuộc đời. Tình yêu kỳ lạ không thể gọi tên, không giống như tình ruột rà máu mủ, không thuần túy là mối tình giữa đàn ông và đàn bà, dù ở đây ta cũng có một người đàn ông - Momo, mười tuổi (thật ra là đã mười bốn) và một người đàn bà - Madame Rosa, gần bảy mươi. Thứ tình yêu rung động như cổ tích, có thể biến một bà già bủng beo nặng gần một tạ trở thành người phụ nữ đẹp dịu dàng trong trái tim Momo. Người đàn bà Do Thái mang nhiều vết thương và sự ám ảnh, nhiều phong ba vùi dập của cuộc đời. Madame Rosa đã cưu mang một đứa bé mồ côi như Momo, vì miếng cơm manh áo, nhưng rồi đã giữ cậu lại bên mình như một đốm lửa nhỏ sưởi ấm trái tim đơn độc giữa biển đời thê lương của mình. Người đàn bà đã ôm ấp cậu, vỗ về an ủi và chùi đít cho Momo trong những ngày tháng bơ vơ từ thuở còn thơ cho đến ngày cậu lớn. Tình yêu giữa họ lớn hơn cả tình mẫu tử thông thường, nó đến từ hai trái tìm thèm khát tình yêu tới thắt lòng thắt ruột và đơn côi tới rạn nứt cả trái tim. Cuộc sống không cho Momo tình thương và lòng tin, chỉ cho cậu duy nhất một người đàn bà nặng gần một tạ để neo cậu lại với cuộc sống, người đàn bà mà nguy cơ rời bỏ cậu ra đi càng ngày càng gần kề.


-    Ông Hamil ơi, người ta có thể sống mà không có tình yêu được không?

-    Có.

Momo bật khóc. Cậu biết rằng mình sẽ vẫn phải sống ngay cả khi tình yêu duy nhất của đời mình ra đi. Dù Momo có đổ hàng tấn nước hoa lên người Madame Rosa, nhưng cuối cùng bà vẫn bỏ cậu mà đi bằng cái mùi của tử thi đã hoại. Và bởi thế, cuộc sống này có vị gì đâu. Nó vẫn thản nhiên đi qua bằng gương mặt đanh đanh vô cảm của nó, cùng những đớn đau đã chai sạn trong tâm hồn già cỗi của một đứa bé lên mười- à không, mười bốn chứ. Cuộc sống, dù nó có cứa biết bao nhiêu vết lên Momo, nó vẫn luôn ở trước mặt cậu, nó chẳng thể ở đâu đó khác, nó còn biết ở đâu nữa bây giờ?

Romain Gary luôn khiến tôi cười, mặc dù biết là bi kịch lắm rồi đấy. Ông khiến tôi lạc quan với chút dí dỏm của mình, dù cười đấy mà ruột thắt biết bao nhiêu bận. Nhưng cái cách ông kiên trì cười vào nỗi thống khổ nó khẳng định rằng rồi ông sẽ thắng, kiểu gì rồi ông cũng sẽ thắng. Không biết đây có phải là một liệu pháp tinh thần không, nhưng biết đâu khi ta cười, thì thế gian sẽ cười đáp lại. Biết đâu cuộc sống đen thủi đen thui của Momo sẽ sang sủa lên, dẫu là tôi cũng chẳng biết đào bới niềm hy vọng ấy ở đâu cho đến dòng chữ cuối. Nhưng ôi dào, rồi thì đời sẽ qua. Thật ra thì những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, nó chẳng thể nào tệ hơn được nữa.


Bạn có khóc khi đọc cuốn này không? Tôi không khóc. Nhưng đau đớn. Không phải ai cũng khiến người ta đau đớn thế khi mặt mũi tỉnh queo. Bởi thế tôi tin là Gary là một trong những cây bút thiên tài. Tiếc là ông chẳng còn trên đời nữa.

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Lời hứa lúc bình minh


Câu chuyện về một cuộc đời, đầy hiện thực mà cũng đầy ảo mộng, nó được dệt nên bằng một thứ xa xỉ gọi là niềm tin và sự ngoan cường chiến đấu cho niềm tin ấy, dẫu có ngây thơ ,thì vẫn đeo đẳng cho đến trang sách cuối cùng. Hành trình của Romain Gary đã khởi động ngay từ thuở bình minh của cuộc đời, khi cậu bé tự nguyện đặt lên vai mình lời hứa sẽ đem tòan bộ thế giới phủ phục dưới chân người mẹ đã sống quên mình vì cậu. Đó là thế giới mà chính bà đã tạo ra bằng tất cả sự viển vông, si mê, ngông cuồng và lãng mạn, thế giới đầy những đài vinh quang lộng lẫy chỉ cách độ một tầm tay hay một cái bước chân. Dù rằng Romain đã đánh đổi nguyên vẹn cuộc đời mình chỉ để vượt qua được cái bước chân ảo vọng ấy, thì cậu cũng đã vì bà mà chưa bao giờ cúi mặt hay tuyệt vọng trước số phận.

Nina là người đàn bà cô đơn, không chồng, không người tình. Bà chỉ có một đứa con trai và đứa con trai đó, không may lại nhận ra mình chính là cái cây duy nhất trong cái sa mạc mênh mông của mẹ để suốt đời nó chấp nhận làm một cái cây dát đầy kim cương long lanh cho bà ngẩn mặt với thế gian. Bà đã tưới cho cái cây duy nhất ấy bằng toàn bộ sức lực của mình, vắt kiệt từng giọt nước giữa cuộc đời-sa mạc cho nó rồi phủ lên đó toàn bộ ảo tưởng mà bà từng bị khước từ. Giấc mộng đời bà bị quá khứ vùi dập vỡ tan, Nina đặt toàn bộ kỳ vọng lên con trai với niềm tin rằng nó sẽ thao túng được tương lai, đập vào số phận từng nhát hả hê như chính số phận đã từng làm thế với bà. Niềm tin viển vông đó nuôi lớn Romain như một chất kháng thể chống lại hiện thực khắc nghiệt và cậu bé lao vào công cuộc chinh phục cuộc đời một cách hăng say không mệt mỏi.

Romain không mù quáng như mẹ, ngay từ lúc chạm ngõ thế giới viển vông mà bà vẽ nên, cậu đã biết giới hạn của mình, đến sự yếu đuối và tài năng hạn chế. Nhưng cậu cũng biết mình không còn lựa chọn nào khác, không phải chỉ vì lời hứa đang gánh vác trên vai, mà bởi vì nhận ra mình là người duy nhất, không thể trao được cho ai được cái trọng trách xây dựng hạnh phúc cho bà. Niềm tin sắt đá mà mẹ đã nhét vào tay cậu thuở bình minh, rằng mẹ "biết" con trai mẹ sẽ trở thành vĩ nhân đã buộc Romain lao đầu vào hầu hết các loại hình nghệ thuật có mặt trên thế gian, để rồi ôm về những nỗi thất vọng ê chề , những cái tên thiên tài trở thành những vết cứa nóng bỏng khi vang lên bên tai khi nhắc nhớ đến sự kém cỏi của bản thân và trở thành những tượng đài lấp lánh nhưng không thể nào với tới được. Nhưng, Romain có dòng máu của mẹ trong huyết quản, dòng máu không có chất tuyệt vọng, dòng máu dại dột mù quáng tuyệt vời nên cậu không bỏ cuộc, không cam tâm, không đầu hàng kể cả khi cuộc đời có ném vào mặt cậu hàng chục tiếng cười nhạo báng.

Nina tham vọng, tham vọng đến mức cuồng vọng. Sự si mê của bà đối với nghệ thuật và với nước Pháp đẩy Romain đi vào một con đường không giới hạn, không có điểm dừng. Nhưng bà không có ý định đặt một gánh nặng lên vai con, bà chỉ cho nó một ảo tưởng, một giấc mơ huy hoàng và cũng như bà Romain tin rằng đó hoàn toàn không phải là một giấc mơ. Dù rất trầy trật khi lao vào lĩnh vực nghệ thuật cũng như tìm cách nhập cư vào nước Pháp, nhưng cả hai mẹ con chưa bao giờ thấy đó là một cái gì đó xa vời quá tầm tay. Nina không nói nhiều nhưng bà đã làm, bằng mọi cách để đạt được mục đích trở thành người Pháp và bà chứng minh cho con là mọi thứ đều có thể. Và với Romain, trên đời này không có gì tan nát bằng ánh mắt thất vọng của bà nên cũng chỉ cần bà còn tia hy vọng trong mắt, cậu sẽ lao vào bằng mọi giá.

Âm nhạc, hội họa hay kịch nghệ đã từ chối Romain, nhưng cậu vẫn còn văn chương và văn chương cũng cho cậu lên bờ xuống ruộng một khoảng thời gian dài rồi mới le lói chút niềm tin. Nhưng chỉ cần chút le lói đó thôi, mẹ cậu đã bám vào như một chiếc phao cứu sinh không lồ, đẩy giấc mơ của bà đến mức tràn trề hứa hẹn. Niềm tin kỳ quặc đôi khi gây sửng sốt nhưng lại tạo ra những khoảnh khắc ngập tràn yêu thương và lòng biết ơn. Và rồi, tuy không trở thành thiên tài, nhưng đến những phút cuối cùng nó vẫn trao cho Romain những thành tựu để tự hào, nó là phần thưởng cho những nỗ lực đến tận cùng, giữa những đau đớn giày vò lẫn khát khao tạo dựng. Niềm tin của bà chính là động lực duy nhất để Romain chiến đấu với cuộc sống lẫn cái chết.

Kết thúc có hậu, Romain đã trở thành đại sứ của nước Pháp sau những lần chết hụt, những lần may mắn tưởng như chỉ có trong mơ. Nhưng trên tất cả là những nỗ lực sống và giành vinh quang của Romain cuối cùng cũng có lời vọng. Thế giới bây giờ dưới chân Romain, những bộ vest mà mẹ cậu ước ao cậu được mặc giờ đã thành hiện thực, những buổi tiệc thanh lịch hào hoa và những cử chỉ chinh phục phụ nữ cậu đều thành thạo. Mọi thứ trong tầm tay, đài vinh quang đã dưới gót chân. Chỉ có bà là không còn nữa. Người mẹ của Romain trước khi từ giã thế giới vẫn kịp để lại cho con mình tình yêu, lòng si mê và tham vọng chinh phục cuộc sống. Bà đi nhưng bà chưa bao giờ cắt đứt sợi dây rốn của bà và con trai mình, sợi dây hằng ngày vẫn truyền đi máu và niềm tin kỳ vĩ thơ ngây vào cuộc sống.

Một người mẹ vĩ đại, và một người con trai trở nên vĩ đại nhờ có một người mẹ như thế. Câu chuyện nửa hiện thực nửa mộng mơ, khắc nghiệt mà cũng giống như cổ tích. Niềm tin mù quáng có thể tiêu diệt mà cũng có thể nâng đỡ bạn, vấn đề là bạn muốn cái gì và bạn có can đảm hay không mà thôi. Romain Gary đã viết một cuốn sách với giọng văn "why so serious? ", rất bình thường, không nặng nề sầu khổ, không bi lụy đa mang nhưng vẫn bộc lộ được toàn bộ tình yêu đậm đặc của tình mẫu tử khi bên nhau lẫn cảm giác vô vọng trống trải lúc chia lìa. Cuộc sống hạnh phúc, đau đớn nhưng cũng đơn giản như thế mà thôi.


Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Mặt trời nhà Scorta



Một cuốn tiểu thuyết thấm đẫm ánh nắng mặt trời, thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu của một dòng họ bị nguyền rủa, nhưng cuối cùng lại kết tinh thành những hạt long lanh như muối trên biển- đó là cái hạnh phúc không gì sánh được khi lao động, đấu tranh để tìm lại một cuộc sống giản dị trên mảnh đất của mình.

Miền nam nước Ý phơi mình dưới ánh mặt trời thiêu đốt, biến mọi thứ trong ánh mắt người ta thành một thứ ảo ảnh chói loà. Ở đó, dòng họ Scorta đã được gieo mầm sống đầu tiên vào một ngày còn tệ hơn thế, khi một gã tù vừa mãn hạn 15 năm trở về ngôi làng Montepuccio để thực hiện một ước mơ cháy bỏng đã gặm nhấm hắn suốt chừng ấy năm trong tù : hãm hiếp cô gái mà hắn từng mê đắm. Hắn thành công và chấp nhận một trận ném đá cho đến chết. Trước khi chết hắn chỉ kịp biết đến một sự thật tàn khốc với mình, đó là hắn đã nhầm lẫn : cô gái bị hắn hãm hiếp không phải là người con gái hắn yêu mà là em gái cô ta : một cô gái câm. Hắn xuống mồ với một nỗi bất mãn cay đắng, nhưng đã để lại trên đời một mầm sống, một hình hài ngay khi ra đời đã mang dấu ấn ô nhục của chính hắn và bị cả Montepuccio nguyền rủa.

Dòng họ Scorta đã ra đời như thế. Đứa trẻ được một cha xứ giành giật sự sống từ trái tim mù quáng u tối của dân Montepuccio, ông cho nó sự sống nhưng không xóa được vết nhơ và sự thù hận trong trái tim . Rocco Scorta Mascalzone trở thành một tên cướp khét tiếng, man rợ và lạnh lùng. Rocco có sự sợ hãi của dân làng nhưng không mua được từ họ sự kính trọng. Cuối đời mình, hắn dành toàn bộ tài sản để làm điều đó bằng một cuộc thương lượng với cha xứ : quyên toàn bộ tài sản cho nhà thờ để đổi lấy một điều : bất cứ ai thuộc dòng họ Scorta khi chết đi sẽ được mai táng bằng hình thức long trọng nhất từ trước đến nay.

Rocco mua cho dòng họ mình sự tôn kính, nhưng cũng bằng cách đó đẩy những đứa con của hắn vào cảnh bần cùng. Cuộc thương lượng cuối cùng chỉ là một thứ giẻ rách báng bổ không hơn khi rơi vào tay một cha xứ mới. Ba đứa con của Rocco vật lộn với thế giới từ con số 0 : không tiền, không sự xót thương che chở, chỉ có dòng máu của nhà Scorta hoang dại mãnh liệt đang chảy trong huyết quản, chỉ có lòng tự tôn cho chính dòng họ bị nguyền rủa của mình làm nơi bấu víu. Mọi thế hệ của nhà Scorta đều bắt đầu như thế.

Họ đã sống đúng như vậy, lao động, đấu tranh không chỉ cho miếng cơm manh áo hàng ngày, mà còn cho cái tên Scorta có một vị trí vững vàng trong ngôi làng đầy định kiến Montepuccio. Chấp nhận đánh đổi cả tình yêu, cả máu và thậm chí cả mạng sống, những đứa con nhà Scorta đang từng ngày xóa đi dấu ấn ô nhục khắc ghi trên dòng họ mình. Mặt trời không rút được hết nhựa sống của họ, ngược lại, họ đạp trên cả những ngọn đồi đá nóng như thiêu, trên những bãi cát mênh mang bỏng rát để trồng cây, đánh cá, đạp trên sóng biển để tìm những chuyến hàng buôn. Mặt trời không giết nổi họ, một dòng họ dám ăn cả mặt trời.

5 thế hệ đi qua trong cuốn tiểu thuyết, và sẽ còn nhiều thế hệ khác bởi dòng máu Scorta mạnh mẽ không ngừng tuôn chảy, như Ellia, người con trai thế hệ thứ 4 đã nói về dòng họ mình rằng : Chúng ta không là gì cả, chỉ là những trái oliu trên cành, chín rồi rơi xuống và biến mất. Chỉ có cái tên Scorta, cũng như những cây oliu là vĩnh cửu, trường tồn...

Cuốn tiểu thuyết mỏng, nhưng nó là một bản trường ca hào hùng về dòng họ Scorta, những kẻ dám phá đi, thiêu đốt rồi xây dưng lại. Những con người không oán trách và đầu hàng số phận, không chối bỏ tai họa để sống kiên cường trên mảnh đất cằn cỗi khắc nghiệt, để mồ hôi chảy trong mình như một thứ hạnh phúc tràn trề được đấu tranh và giành giật thứ mình yêu. Nắng không thiêu đốt họ, nắng chỉ tôi luyện họ như đã tôi luyện những cây oliu cho ra thứ nhựa sống căng tràn từ đất khô. Từng thế hệ sinh ra thô nhám như đất, chiến đấu ngoan cường để cuối cùng lặng im về với đất, chỉ có gió đang thổi những cơn nồng nàng, mang theo mùi đá rít và mùi cỏ dại, Montepuccio chưa bao giờ vắng dấu chân người...

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Ba ơi, mình đi đâu?




Trào phúng hóm hỉnh – đó là cách tác giả lựa chọn để viết lên câu chuyện của chính mình. Dù đó là một câu chuyện buồn và hơn cả nỗi buồn - đến mức ta chưa kịp nở nụ cười vì sự dí dỏm thì giọt nước mắt đã rơi. Tuy nhiên ở đây, không có chỗ cho sự thương cảm xót xa, không có chỗ cho bi lụy. Chỉ có chỗ cho tình yêu vô điều kiện của người cha dành cho những đứa con trai của mình – dù chúng không phải là một kiệt tác của thượng đế, không phải món quà của Chúa, không phải niềm tự hào hay kỳ vọng. Chúng là nỗi đau đớn thất vọng và sụp đổ không kém gì ngày tận thế.
Người đàn ông này có đến hai ngày tận thế : Mathieu và Thomas – hai đứa con trai tật nguyền và thiểu năng , hai hình hài mãi mãi dừng ở tuổi thứ bảy dù có bước sang tuổi thứ bao nhiêu của cuộc đời, hai trí tuệ mãi mãi non nớt : Mathieu chỉ biết nói “brừm, brừm” và Thomas chỉ biết hỏi “ba ơi, mình đi đâu?”. Hơn hết, chúng là hai nỗi giằng xé trong trái tim người cha, suốt đời dằng vặc, rằng mình đã hỏng hóc ở chỗ nào hoặc cụ kỵ của mình đã sai lầm ở đâu để cuối cùng lại sinh ra những đứa con như vậy
Nhưng cho dù là những đứa con dị dạng, tật nguyền, chúng vẫn là những đứa con được sinh ra từ tình yêu, từ khát khao của cha mẹ. Jean Louis Fournier, số phận của ông là cha của chúng- và ông đã làm tốt vai trò đó. Một người cha với tất cả sự tủi hổ khi thấy con mình thua kém, thiệt thòi, người cha cáu kỉnh giận dữ trước phiền phức mà lũ con mang lại, nhưng vẫn là một người cha với tất cả tình yêu thương dành cho con mình. Người cha lặng lẽ ngắm hai sinh linh bé nhỏ, âu yếm nghĩ về chúng như những con chim sẻ xù lông ốm yếu không đủ sức sải cánh. Ông ấy từng mơ về công và đại bàng, nhưng vẫn yêu những con chim sẻ tầm thường nhỏ nhoi và không ngừng hy vọng về một ngày chúng có thể bay và ngắm bầu trời.
Jean- Louis Fournier không phải là một người đàn ông mạnh mẽ, không phải là một thiên thần để có thể mỉm cười trước sự cay đắng của số phận, trước sự may rủi của trò xổ số di truyền học mà ông đã thua. Ông yếu đuối – nên đau buồn đến phát điên , đến quẫn trí, đến hằn học. Nhưng rồi ông vẫn tiếp tục sống, tiếp tục chiến đấu và hy vọng, vì chính hai đứa con mình, hai con chim sẻ còi cọc tội nghiệp mà ông đã mang chúng vào đời. Rồi học cách cười cợt nỗi đau khổ của mình, mỉa mai sự cay đắng của mình, sống chung với định mệnh của mình. Ông nhận ra mình, ngoài cõi lòng tan nát, vẫn còn hai đứa con, dù không đẹp đẽ xinh xắn, nó vẫn là thiên thần của ông, vẫn là những niềm vui bé nhỏ ngày ngày lấp đầy trái tim thương tổn của ông. Chúng tật nguyền, dị dạng, nhưng tình yêu của ông dành cho chúng là lành lặn và trọn vẹn
“Ba ơi, mình đi đâu?” Thomas hỏi câu ấy mấy trăm lần, và nó không hề nhớ ra một câu trả lời nào cả. Thực chất ba của nó cũng không có đáp án cho câu hỏi ấy, rằng họ sẽ đi về đâu, phía nào có ánh sáng cho cuộc đời của họ, cho những đớn đau mà họ gánh chịu. Ở đâu có thể cho Thomas sự lành lặn, để làm một người bình thường. Ở đâu có thể đem lại cho Mathieu bầu trời mà không đánh đổi bằng mạng sống. Đến cuối cuộc đời mình, ông ấy biết rằng mình cũng không thể có câu trả lời
Trong bế tắc và tuyệt vọng, cuối cùng chính người đọc sẽ nhận ra ánh sáng xuất hiện trong câu chuyện này không đến từ một phía nào khác, mà ngay chính trái tim của tác giả. Người đã bằng mọi giá chống đỡ lại số phận khắc nghiệt của mình, bằng mọi giá thắp lên một ngọn lửa cho mình trong căn hầm tối đen. Không thể chờ đợi và hy vọng vào một điều kỳ diệu, chỉ có thể nỗ lực để sống bằng tình thương yêu và những niềm vui do chính mình tạo nên. Đó chính là thứ hạnh phúc căn bản của cuộc đời, và vì thế, dù mỏng manh nhưng không bao giờ tàn lụi
Trích đoạn :
“Những chú chim bé nhỏ của ba, ba rất buồn khi nghĩ rằng các con không biết điều gì đã làm nên khoảnh khắc tuyệt vời nhất của cuộc đời ba
Những khoảnh khắc tuyệt vời ấy là những khoảnh khắc mà ở đó thế giới thu nhỏ lại thành một người duy nhất, ở đó chúng ta chỉ sống vì người ấy và nhờ vào người ấy, ở đó chúng ta run run mỗi lần nghe tiếng bước chân người ấy, giọng nói người ấy, chúng ta ngây ngất mỗi lần trong thấy người ấy. Chúng ta sợ làm đau người ấy nếu ôm người ấy quá chặt. Chúng ta rạo rực mỗi lần ôm hôn người ấy và thế giới quanh chúng ta bỗng trở nên nhạt nhòa
Các con sẽ chẳng bao giờ biết được cơn rùng mình lan tỏa từ chân đến đầu ấy, nó làm nảy sinh trong các con cảm giác xáo trộn, tệ hơn cả việc mất trí, điện giật hay hành quyết. Nó làm các con bối rối, đảo điên và cuốn các con vào cơn cuồng quay khiến các con trở nên hoảng hốt và nổi da gà. Nó khuấy động toàn bộ tâm can các con, làm mặt mũi các con nóng bừng, làm các con đỏ mặt, làm các con gào rú, sởn gai ốc, làm các con ấp úng, nói nhăng cuội, làm các con vừa cười vừa khóc
Bởi lẽ, thế đấy, những chú chim bé nhỏ của ba, các con sẽ chẳng bao giờ biết chia ở ngôi thứ nhất số ít và ở thức trình bày hiện tại động từ thuộc nhóm thứ nhất này :YÊU”
(Trang 86-87)
Tiểu sử tác giả : Jean- Louis Fournier sinh năm 1938 tại Arras, hiện sống và làm việc tại Paris. Ông là nhà văn trào lộng khiêm đạo diễn phim truyền hình. Ở tuổi 70 ông viết “Ba ơi, mình đi đâu” câu chuyện cảm động về hai cậu con trai tật nguyền của ông, đoạt giải Fémina 2008

Nhím thanh lịch


Sự tinh tế ẩn mình

…“Cái đẹp nằm ở đâu? Trong những vật to lớn mà rốt cuộc cũng phải chết như những thứ khác, hay trong những thứ rất nhỏ vốn không có tham vọng gì, nhưng lại biết khảm vào khoảnh khoắc một viên ngọc của vô tận”…
Trong đời mình, bạn đã đi qua bao nhiêu bông hoa trà mà không nhận ra hương thơm lặng lẽ của nó. Bạn đã đi qua bao nhiêu con nhím mà không thấy được sự thanh lịch đang ẩn mình dưới những chiếc gai nhọn. Qua bao nhiên viên sỏi mà không thấy được hạt ngọc tinh khiết bên trong. Và quả tình nếu cuộc đời này đáng chán và tối tăm thì có phải tại chúng ta đã không nhận ra được những vẻ đẹp mà cuộc đời ban tặng?

Nghệ thuật, đó chính là cuộc sống, nhưng ở một nhịp điệu khác.

Vì cái lẽ giản dị này, mà ý nghĩa đích thực của cuộc sống không dễ dàng được nhận ra như một số người ảo tưởng. Để nhận ra nhịp điệu khác của cuộc sống, bạn phải nhìn với đôi mắt khác, để không thấy mọi vật theo cái vẻ bề ngoài: xù xì thô nhám và bề bộn. Bạn cần có cả những rung cảm tinh tế, những đồng cảm lớn lao để có thể thấy được tâm hồn của nhau. Như Renée, Paloma và Ozu.
Những tâm hồn đồng điệu. Đó là cách họ nhìn thấy nhau


Những con nhím cô đơn

Những nhân vật kín đáo và lặng lẽ gây ra những sự ngạc nhiên. Thế giới của Paloma là thế giới tư sản đầy rẫy những thành kiến và kiểu cách giả tạo. Thế giới của Renée là thế giới của người nghèo đầy mặc cảm giai cấp. Tất cả phủ lên hai con người này những lớp vỏ kỳ lạ, xấu xí trong xã hội. Renée cục mịch và thô lỗ, Paloma cay độc và bất thường. Cả hai cùng cô đơn. Trong hành trình đi tìm những khoảnh khắc đẹp đã gặp nhau trong ít phút đồng hồ cùng những tách trà – “nghi thức giản dị tạo ra những cảm giác chân thực, tinh tế cho phép mỗi người bằng cách không tốn kém có thể trở thành nhà quý tộc về khiếu thưởng thức…” Họ là hai con nhím ngồi bên nhau, lặng lẽ nhận ra vẻ thanh lịch trong từng chiếc gai, và lặng lẽ chia sẻ cho nhau vẻ đẹp của cuộc sống.


Vì một bông hoa trà

Ozu lại là một bông hoa trà. Bông hoa tỏa hương trên đám rêu với tất cả sự tinh tế và tình yêu cuộc sống của mình. Ozu là gạch nối, là sự thanh lịch hiện hữu, thỏi nam châm hút Renée và Paloma lại gần ông, và do đó gần nhau. Bên cạnh bông hoa trà, sự ngây ngất của những con nhím đã làm toát lên vẻ duyên dáng thanh lịch cao quý của những tâm hồn biết thưởng thức cái đẹp. Ozu ở đó, để chứng minh rằng cái đẹp có tồn tại trong cuộc sống – nhưng không phải cách người ta thường thấy – nó chỉ dành cho những tâm hồn biết thưởng thức, trân trọng và nâng niu. Ozu nói với Renée : “Chúng ta có thể là bạn, và thậm chí là tất cả những gì chúng ta muốn”…

Hài hước một cách sâu sắc, triết lý mà rất dí dỏm. Trong căn nhà số 7 phố Grenelle, bạn sẽ tìm thấy những sự thanh lịch của những con nhím với chiếc gai nhọn, hương thơm tinh khiết lặng lẽ của bông hoa trà. Bạn cũng sẽ tìm thấy vô số những lý lẽ về những sự vật bé nhỏ tưởng chừng như không hiện diện trong cuộc sống: những chiếc ly, chiếc khăn quàng, con mèo và cái vòi nước ngân nga một bản nhạc khi mở. Sự tinh tế đi đến cùng của tất cả mọi thứ.

Một cách rất Nhật – chậm rãi, nhẹ nhõm và rất thông minh, cộng thêm thứ văn phong thanh lịch có phần kiểu cách, Muriel đã viết cuốn sách như một cách thể hiện đam mê của mình cho nền văn hóa Nhật Bản – tràn đầy sự tinh tế và bay bổng như một bài thơ haiku. Cho dù không thật tốt khi hóa thân vào nhân vật Paloma – vẫn còn sự cực đoan, một chiều trong cách nhìn nhận và vẫn còn quá cay độc cho một đứa bé ở tuổi 12, cuốn sách vẫn thành công với thông điệp độc đáo mà tác giả đưa ra : thế giới này vẫn còn rất nhiều bông hoa trà – dành riêng cho những cảm nhận tinh tế - dù đó là cảm nhận của những con nhím xù xì đầy gai - và rằng đằng sau những chiếc gai là tâm hồn thanh lịch – điều cơ bản là bạn có nhận ra, có đủ lòng tin để chờ đợi – mọi thứ sẽ đến lúc của nó – mà thôi.
- Tại sao ta phải ở lại thế giới này?
- Vì một bông hoa trà


Trích đoạn :
“Thế là những tiếng nức nở từ ngực tôi đã mang theo toàn bộ cuộc sống bí mật của một trí óc cô độc, tất cả những lần đọc sách giấu mọi người, tất cả những mùa đông bệnh tật, tất cả những cơn mưa tháng mười một trên khuôn mặt chị Lisette, tất cả những cây hoa trà trở về từ địa ngục và mắc lại trên đám rêu ở ngôi đền, tất cả những chén trà trong tình bạn nồng ấm, tất cả những lời kỳ diệu từ miệng của cô gái, những bức tranh tĩnh vật rất wabi, những bản thể vĩnh cửu soi sáng hình phản chiếu riêng biệt của chúng, cả đến những cơn mưa mùa hạ chợt đến trong sự bất ngờ thích thú, những bông tuyết nhảy theo những ca khúc đơn điệu của trái tim, và trong chiếc hộp cổ đựng đồ nữ trang của Nhật, khuôn mặt thanh khiết của Paloma. Rồi tôi khóc, khóc không thể kìm nén được, những giọt nước mắt to nóng hổi hạnh phúc, trong khi đó xung quanh tôi mọi người mải mê ăn uống, chỉ còn lại cảm giác cái nhìn của người đàn ông mà khi ngồi cùng ông ấy, tôi cảm thấy mình là một người khác, người ấy nhẹ nhàng cầm tay tôi, cười với tôi với tất cả sự nồng nhiệt trên thế giới.
- Cám ơn, tôi gắng thầm thì trong hơi thở
- Chúng ta có thể là bạn- ông ấy nói – và thậm chí là tất cả những gì chúng ta muốn”