Hiển thị các bài đăng có nhãn Orhan Pamuk. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Orhan Pamuk. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Bảo tàng ngây thơ

MỘT TÌNH YÊU KHƯỚC TỪ LÃNG QUÊN

Đã đến cái thời mà chúng ta, bằng đôi cánh của lý trí hoài nghi và lý tưởng về tự do, đều rời xa thời thơ ngây của mình thật sớm. Giờ đây, tình yêu vĩnh cửu chỉ là ảo mộng sớm nở tối tàn của tuổi thanh xuân, những đau khổ mất mát, những cơn thất tình đã trở thành những cơn rồ dại của tuổi trẻ, và người ta chỉ còn tin vào những khoảnh khắc nhất định của cuộc đời, thì một cái gì đó mang thông điệp về sự mãi mãi thật khiến người ta ngần ngại và thậm chí sửng sốt. Vậy mà Orhan Pamuk, ở tuổi 56, viết Bảo tàng ngây thơ, câu chuyện về một mối tình đã đến trong đời người đàn ông 30 tuổi, Kemal, và ở lại đó cho đến phút cuối. Câu chuyện rất đơn giản nhưng để nó có thể tồn tại giữa thời đại lý tính này, thì nỗ lực dành cho nó gần như là bất tận.

Tình yêu mà Kemal dành cho Fusun khởi đầu bằng những cơn lốc cảm xúc cuồng nhiệt rất đỗi bình thường, khi họ lao vào nhau bất chấp cuộc đời và những giá trị đạo đức. Những người đọc lý trí sẽ đinh ninh rằng, như mọi cơn mưa rào khác, sự vồn vã dồn dập của nó đã được đánh đổi bằng thời gian ngắn ngủi của mình. Nhưng Orhan Pamuk không viết về những cơn mưa như thế, nó khởi thuỷ không phải là một cơn mưa mà là một dòng thác, khi đã tuôn trào vốn không hứa hẹn một ngày sẽ chấm dứt. Một mối tình kéo dài suốt đời, dai dẳng chờ đợi, triền miên với những cơn hy vọng rồi thất vọng chập chùng lúc căng lúc giãn, mối tình ám ảnh toả cái ánh sáng lấp lánh và nhức nhối của nó lên thành phố nơi câu chuyện diễn ra, phủ niềm say đắm của nó khắp các nẻo đường, hang cùng ngõ hẻm, các quán xá, hàng cây, đồ vật. Mối tình ấy không chỉ có hai người mà có cả thế giới nơi họ thuộc về, nơi ánh mắt họ quét qua, nơi bàn tay họ chạm tới. Bằng cách đó, tình yêu chống lại thời gian, với tất cả các bằng chứng mà nó có. Kemal đã dành toàn bộ cuộc đời để xây dựng cho mình một bảo tàng của tình yêu, một cách chuyển hoá và lưu trữ cảm xúc để nó tồn tại mãi hoài trong năm tháng lãng quên...

Trên đời, những người hoài niệm quá khứ có rất nhiều, những người lặn lội ngược dòng cũng không ít, nhưng chỉ có Orhan Pamuk là cặm cụi nghiên cứu ký ức như một nhà khảo cổ nghiên cứu cổ vật của đời mình, soi tới từng chân tơ kẽ tóc của quá khứ bằng đôi mắt đã gắn kính lúp, để mọi thứ hiện lên rõ ràng, chi tiết và cụ thể. Với Orhan, đó không phải là một cuộc đi tìm như Marcel Proust đã làm với dòng hoài niệm miên man về thời gian đã mất, đó là một công cuộc xây dựng tái thiết với toàn bộ sức lực và tình yêu dành cho một công trình duy nhất và vĩ đại nhất cuộc đời: một mối tình. Công trình trừu tượng của cảm xúc được chuyển hóa bằng kỷ vật để hiện lên như một không gian cụ thể có chạm trổ xếp đặt, tỏa ra bầu không khí vững chãi và mạnh mẽ của nó như ngôi đền Patheon đã cố định mình trong dòng chảy bất tận của thời gian.

Đi xa hơn câu chuyện của một mối tình là câu chuyện của tình yêu và hạnh phúc. Tình yêu của Kemal với Fusun cũng như tình yêu của Orhan Pamuk dành cho Istanbul, đều khởi đầu bằng sự tình cờ của số phận và rồi ngày càng đắm đuối đi đến cùng như gã si tình. Đắm đuối đến mức người ta phải đặt câu hỏi rằng, điểu gì đã khiến ông yêu nhiều đến vậy? Và Kemal, người đàn ông đã theo đuổi mối tình vô vọng trong suốt 8 năm thì có đáng thương không? Kemal đã trả lời cuối cuốn sách: Tôi đã sống một cuộc đời hạnh phúc. Hoá ra, hạnh phúc đơn giản của cuộc đời chính là được điên rồ theo đuổi điều mình mong muốn, hạnh phúc được bất chấp tất cả để yêu một tình yêu phi lý vô cùng. Kemal đã yêu một cô gái nghèo không cùng địa vị với anh cũng như Orhan Pamuk đã yêu Istanbul, thành phố già cỗi với rất nhiều vết thương thời đại và những cuộc xung đột đẫm máu. Giá trị của tình yêu và hạnh phúc cuối cùng không đo bằng thành tựu hay bằng sự viên mãn mà nó đo bằng việc sống trọn vẹn, sự hết lòng. Có gì hơn là được đắm chìm vào thế giới mà ta mong muốn?

Văn chương của Orhan Pamuk là kiểu văn chương chạm trổ cầu kỳ tỉ mỉ. Giọng văn đầy khắc kỷ của một nhà khảo cổ học khiến mối tình hoang đường điên rồ ấy hiện lên như một thực thể hiện hữu lung linh đầy xác tín. Trong nỗ lực tạo tác ấy có tâm tư của người viết, kẻ luôn đặt mình song hành với cái thế giới ông tạo ra. Cái tâm tư ấy nếu ta có thể nhìn thấy, phảng phất trên những nẻo đường Istanbul hiện lên trong cuốn sách, là sự gắn bó, là sự mến yêu, là sự thủy chung với mảnh đất mà hồn mình neo đậu, cũng là nơi mối tình kia neo đậu. Bảo tàng ngây thơ là câu chuyện về sự quay về, sự đắm mình trong không gian của hồi ức của một tình yêu đã khước từ sự lãng quên để ở lại mãi mãi.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Istanbul - Hồi ức và thành phố

                                     
Rất nhiều người yêu thành phố nơi mình sống, nhưng không có nhiều người hiểu về nó, và càng ít người muốn tìm hiểu về nó. Tình yêu ấy với họ đơn giản chỉ là sự tận hưởng chung chung về màu sắc, hương vị đặc trưng của cuộc sống ở đấy, có kỷ niệm, có nhớ nhung nhưng tựu chung rồi nó sẽ cuốn theo năm tháng phai tàn. Khi tôi đọc cuốn sách này, tôi quá ngạc nhiên về tình cảm của Orhan Pamuk dành cho thành phố Istanbul nơi ông sống, tình yêu nào khiến người ta lặn lội ngược dòng quá khứ chỉ để đào bới những vết thương, rồi suốt đời ôm ấp vào lòng như một phần sinh mệnh?

Istanbul, thành phố nằm bên bờ vịnh Bosphorus, một thời là thủ phủ của đế chế Ottoman hùng mạnh với những vết tích hoang phế rải dọc bờ. Những con phà tỏa khói xám bàng bạc trong nỗi buồn bao phủ lên tâm tưởng và số phận người Thổ. Giữa những dấu vết nhắc nhớ về một quá khứ vàng son, giữa nỗi mặc cảm chênh vênh neo mình giữa hai bờ Đông - Tây của hiện tại, người Thổ tự phủ lên cuộc đời mình một tấm màn mỏng mềm mại âm u để che mờ sự hiển hiện, gọi là huzun. Huzun trong tiếng Thổ gọi là nỗi u sầu, sự u sầu len lén vào tim để đau đớn trong sự mềm mại của nó. Không có gì diễn tả được tâm trạng người Thổ hơn từ ấy, nỗi sầu khổ khi bị xa lìa, sự mất mát, sự hoang mang... Và tất cả, phủ lên Istanbul vốn đã bàng bạc màu khói xám một tấm sương mờ, như một viễn tượng hội họa.

Chính vì thế mà Instanbul đẹp, đẹp bằng những nỗi buồn ghi dấu trên những ngọn tháp cao, những ngọn cây đổ bóng dài trong ánh chập choạng hoàng hôn sáng- tối. Đẹp bằng những âm u chiều xuống trong những con hẻm nghèo dài chênh vênh. Orhan Pamuk thoạt tiên muốn hiểu Istanbul bằng hội họa và hình ảnh vì ông muốn trở thành họa sĩ. Ông phân tích những bức tranh vẽ từ thời đế chế, nghiên cứu những bức ảnh đen trắng với đôi mắt của một người phương Tây, chăm chú, tỉ mỉ và cuối cùng, như một bác sĩ, ông tìm ra vết thương của thành phố. Vết thương sâu hoắm u ám tận cõi lòng mà không ai nhận ra vì nó đã là một phần trong cuộc đời người Thổ. Và thế rồi Orhan, ông trở thành một nhà văn.

Với tôi, làm nhà văn nghĩa là thừa nhận những vết thương bí mật mà chúng ta mang trong nội thể mình, những vết thương bí mật đến nỗi chính ta chẳng mấy khi biết, và nhẫn nại tìm hiểu chúng, khám phá chúng, soi rọi chúng, để làm chủ những nỗi đau và vết thương đó, biến chúng thành một phần hữu thức của tinh thần ta, tác phẩm của ta.


Có những chương trong cuốn sách này được miêu tả rất đẹp, đẹp tới đau lòng. Đẹp trong từng câu chữ đơn giản, trong từng bức ảnh đen trắng minh họa. Và Istanbul hiện lên với những tòa tháp cao bơ vơ trên nền trời hiu quạnh, những cánh hải âu bay xao xác bờ vịnh, tiếng còi tàu dài rền vang quay quắt điệu u buồn. Những làn khói bay trên nóc những chuyến phà, những bóng người lầm lũi kéo hoàng hôn về phủ lên thành phố. Và huzun tuy bàng bạc như sương nhưng đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài trong những trang sách, với những đêm mất ngủ nằm chờ những chuyến tàu qua vịnh như những thói quen, những đốm lửa xa xa hay những trận pháo lửa sáng trời khi những chuyến tàu chở dầu đâm vào nhau ngoài khơi. Bosphorus không chỉ chứa những chuyến phà, nó còn chất chứa những đôi mắt đăm đăm trong đêm nhìn ra bờ vịnh - cửa ngõ Đông-Tây của thành phố. Những đôi mắt hoang mang, u sầu và bất lực.

Thông qua đời mình, Orhan Pamuk đi tìm Istanbul, với những câu chuyện, những biên niên sử và cả những hồi ức đã bị lãng quên, những vết thương dấu kín. Cậu bé Orhan Pamuk đã yêu Istanbul và vịnh Bosphorus vì những tháng năm hạnh phúc của cuộc đời được sống và rong chơi, được chìm trong những truyền thuyết về đế chế Ottoman, ly kỳ và diệu vợi. Orhan đã bắt đầu yêu Istanbul bằng cái vẻ đẹp lộng lẫy ngọt ngào của nó, để rồi mãi hoài trên hành trình yêu thương đó, càng ngày càng nhận ra những đau đớn đằng sau, những vết cháy, những trận bão tuyết cuồng phong, những lỗ trống bơ vơ trong trái tim thành phố. Nhưng Orhan không bỏ đi, không chạy trốn nó, như một số trí thức nước Thổ đã tìm được ra khỏi đất nước để đến với phương Tây. Ông ở lại, để cái nỗi buồn của nó, vết thương của nó trở thành một phần của đời mình. Với Orhan, Istanbul thật sự là tình yêu, tình thương và sự lựa chọn của tuổi trưởng thành, hoàn toàn không ảo vọng.


Tại sao người ta có thể yêu thành phố nơi mình sống đến thế?

Câu hỏi này cứ lớn dần lên theo từng, từng trang sách để đến cuối cùng, khi gấp sách lại, tôi thấy mình ngập chìm trong hỗn mang cảm giác mà tác giả đem đến : yêu thương, bất lực, tuyệt vọng, bơ vơ... Istanbul như người mẹ đã qua thời son trẻ, chỉ còn lại những tồi tàn mà tháng năm chồng chất với những hoang phế u buồn và nỗi ám ảnh vàng son. Và Orhan Pamuk đã yêu thành phố ông sống trọn đời mình, như đứa con yêu mẹ bằng trường kỳ tình yêu từ ngày mới chớm đến tuổi bạc đầu. Ông đã yêu người mẹ ông chưa từng rời xa trong đời bằng tình yêu rưng rưng trìu mến lẫn đắng cay nhưng trên hết là thấu hiểu, như hiểu nguyên nhân từng vết nhăn nheo trên trán mẹ mình. Một tình yêu đáng để vinh danh và ngưỡng mộ. Một cuốn sách xứng đáng là kiệt tác.

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Tuyết




Thành thật mà nói, mình không đủ sức đọc cuốn sách này. Mà vẫn ráng đọc hết vì đã lỡ mua về. Sai lầm thứ nhất ở chỗ mình đã không đọc qua bất kỳ lời giới thiệu nào trước khi mua nó. Sai lầm thứ hai thuộc về cái bạn design bìa sách của Nhã Nam, đã làm mình lầm tưởng rằng "Tuyết" là một cuốn sách êm đềm, nhẹ nhàng như truyện của Pautovski. Giá như bạn ấy xài màu xám thay vì màu xanh, mình sẽ được một chút cảnh báo.

Trên đây mới chỉ là những vấn đề khách quan. Còn chủ quan mà nói, cũng khá là nhục khi thừa nhận rằng kiến thức mình không đủ để đọc nó. Những thứ mình không hiểu ở đây có thể chất lên một đống. Đầu tiên phải kể đến thứ đậm đặc nhất đó là chính trị, thứ mình hoàn toàn không muốn đụng vào. Tiếp theo là Hồi giáo, tôn giáo mình chỉ được biết qua bản tin vài phút trên TV có liên quan tới những vụ đánh bom liều chết - mơ hồ và không hề có lời lý giải. Tiếp nữa là Kars, một thành phố u buồn nào đó của Thổ Nhĩ Kỳ, mình mới nghe tới lần đầu tiên, cách đây một khoảng vu vơ không xác định, thậm chí mình còn không nhớ nỗi Thổ Nhĩ Kỳ thuộc châu Á hay châu Âu. Cuối cùng là Tuyết. Bạn không thể hình dung nổi vẻ đẹp của nó, sự lung linh huyền ảo hay cảm giác cô đơn trong Tuyết khi mà bạn mới chỉ thấy nó trong tủ lạnh.

Nhưng Ka là một thi sĩ. Cuộc đời ông chỉ dành những mối bận tâm cho thi ca. Không có chỗ cho chính trị. Sự trở về của ông chỉ để tìm kiếm hạnh phúc và những ký ức tuổi thơ. Nếu Ka có vô tình rơi vào chính trị thì cũng như mình vô tình đọc phải cuốn sách này, ngơ ngác trốn tránh nhưng cũng không cách nào thoát ra được. Ở một chừng mực nào đó, có thể mình hiểu được Ka.

Ka là một kẻ cô đơn. Ở Đức,ông là một kẻ tha hương còn khi quay về quê, ông lại thành một người Tây phương bị dân địa phương khinh ghét chối bỏ. Sự cô đơn thôi thúc ông trở lại với tín ngưỡng , Ka thừa nhận rằng càng ngày ông càng tin vào Alla. Nhưng đức tin của ông là như thế này : “Con muốn có một Alla mà đến tiếp kiến không cần cởi giày, không yêu cầu con hôn tay ai và phải quỳ gối. Một Alla hiểu nỗi cô đơn của con”. Xét cho cùng, thứ Ka tìm kiếm là hạnh phúc thực tại chứ không phải an lạc vĩnh hằng ở thế giới bên kia như phần đông nhưng người Hồi giáo. Đối với mình, Alla hay Chúa hay Đức Phật mình cũng mong chờ có chừng ấy mà thôi. Điều con người ta cần nhất trong thế giới này chẳng phải điều giản dị đó hay sao. Khi mà cô đơn gần như là bao trùm khắp mọi ngóc ngách của trái đất, đâu chỉ là một nơi lạnh lẽo tuyết phủ như Kars.

Ở Kars, Ka gặp Necip - lúc đầu đến tìm Ka để khuyên ông gặp Lam(Blue) một trùm khủng bố đang bị truy nã- nhưng càng về sau, chủ đề xoay quanh cuộc gặp gỡ của họ chính là thơ ca và tình yêu. Necip yêu Kadife và Ka yêu Ipek – chị của cô. Giữa họ có một sự đồng cảm kỳ lạ không hề có chỗ của chính trị và tôn giáo. Necip đơn thuần nhìn ông là một nhà thơ, đúng như Ka mong muốn
“Thế gian đẹp xiết bao,” Necip thì thầm
Ka hỏi: “Theo cậu, cái gì đẹp nhất trong đời?”
Họ im lặng, rồi Necip nói như tiết lộ một bí mật: “Tất cả.”
“Nhưng chẳng phải cuộc đời làm ta bất hạnh hay sao?”
“Đúng vậy, nhưng đó là lỗi của chúng ta, không phải lỗi của thế gian hay Đấng tạo hóa”
Đây là lần gặp gỡ cuối cùng của Ka với Necip. Hai mươi sáu phút sau đó, Tuyết sẽ chia cắt thành phố này với thế giới, và trong lòng nó, một cuộc đảo chính quân sự đã nổ ra, một viên đạn trong cuộc đảo chính ấy đã xuyên qua mắt xé nát óc cậu. Necip chết.Bài thơ ra đời trong lần gặp cuối cùng đó Ka đặt tên là : Nơi không có Alla.

Chỉ có Necip, Ka và Tuyết. Cùng tình yêu của họ, không chỉ cho những nàng Sheherazade mắt huyền mà còn cho cả thế gian. Mục tiêu cuối cùng của các loại tôn giáo, mình nghĩ rốt cuộc cũng chỉ là để con người ta nhìn cuộc đời với những cặp mắt thế mà thôi. Muốn gì hơn nữa.

Cái chết của Necip và sau này là của Ka, đều là vì những động cơ chính trị. Cả hai đều là những kẻ mơ mộng ủy mị, yếu đuối và thật sự không có chỗ trong cái thế giới hỗn loạn này. Necip và Ka. “Tất cả chúng ta đều mong muốn gì đó trong đời, đúng không”. Necip muốn cưới Kadife, sống ở Istanbul và trở thành nhà văn Hồi giáo đầu tiên viết khoa học giả tưởng. Ka đã cười và thừa nhận họ giống nhau. Họ đều là những kẻ kiếm tìm hạnh phúc và nghĩ rằng: “Được hạnh phúc là tôi thấy đủ”. Nhưng sự thật là, như Lam- tên khủng bố đẹp trai đã hét vào mặt Ka lần cuối cùng: “Hãy biết là không có ai có được hạnh phúc khi thấy chỉ cần hạnh phúc là đủ.”

Lam đã đúng. Việc lao vào kiếm tìm hạnh phúc không làm Ka hạnh phúc. Nó chỉ khiến Ka mắc kẹt trong hang đống mưu đồ chính trị và trở thành một kẻ gián điệp hai mang trong mắt mọi người. Mọi nỗ lực của Ka chỉ để dành giật tình yêu của Ipek và mang cô theo về Đức. Nhưng con người Ipek – vốn đã yêu Lam và vốn đã hoàn toàn thuộc về nơi này, như hàng trăm hệ tư tưởng mắc míu và bám rễ thì tình yêu của Ka hoàn toàn không đủ.

Ka chết. Tự dưng mình nghĩ rằng, con người ta cho dù có chán ghét chính trị cách mấy thì cũng không thể chối bỏ được rằng mình là một phần của chính trị. Thật là đáng chán. Như Ka, không phải chỉ cuộc đời cô đơn của ông, thơ của ông đã chứng minh cho tình trạng xung đột giữa các sắc tộc và tôn giáo, mà đến cả cái chết của ông cũng rơi vào vòng chính trị. Suốt cả đời ông tâm niệm đuổi theo nàng Thơ nhưng mọi ngả đường đều giăng những vòng cương tỏa. Ka không tìm ra được câu trả lời cho mình- một người trót mang hệ tư tưởng phương Tây trong khi huyết thống và tâm hồn thì vẫn mò mẫm tìm về tín ngưỡng dân tộc. Mà cánh cửa ấy cứ nặng nề không chịu mở.

Mình không hiểu về thế giới tâm linh của Hồi giáo. Thành thật mà nói thì những tin tức thời sự gần đây làm mình thiếu thiện cảm đối với thứ tôn giáo này. Nhưng đọc hết cuốn sách, dù cũng không thông suốt lắm mình cũng phải thừa nhận rằng, đúng như Necip nói, cái thế giới này be bét la lỗi tại chúng ta chứ không phải của một Đấng tạo hóa nào hết.

Còn đối với Ka, dù thế giới này rách nát tới đâu, Tuyết ở Kars vẫn đẹp, u buồn và lộng lẫy, nhất là khi Ka ngoảnh lại và thấy Tuyết rơi cả trong mắt Ipek.