Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Bố già


What's with men and The God father?

Giống như nàng Kathleen Kelly trong phim You've got mail đã than trời khi thấy đàn ông quanh mình say mê quyển sách này đến điên cuồng, từ bạn cùng phòng đến bạn tâm thư, thậm chi đối thủ làm ăn đều cắm cúi trích dẫn The God Father vào mọi lúc mọi nơi - thì tôi cũng thế - Tôi cũng thắc mắc quyển sách này có cái gì mà trù quến người ta dữ vậy? Thế nên tôi phải đọc.

Đọc xong thì tôi hiểu tại sao đây là quyển sách được xem như Nhập Môn Đàn Ông của một nửa thế giới. Bởi chất Nam tính của nó đậm đặc không kém gì dầu oliu loại 1. Ngang tàng, hoang dã điên rồ nhưng rất nồng ấm dịu dàng, quyển sách dẫn người đọc đi vào thế giới mê cuồng thấm máu của Mafia Ý trên đất Mỹ một cách chân thực sống động và đời đến không ngờ.

Điều gì là quan trọng nhất của một người đàn ông? Với Mario Puzo có lẽ đó là khí phách. Khí phách dẫn dắt mọi luật lệ trong giới giang hồ, khí phách ngẩn cao đầu lạnh lùng trước mọi biến cố, khí phách đối diện với thực tế đẫm máu và mất mát để biết tiến biến lùi, biết ẩn thân biết ra mặt. Khí phách không phải thứ để lấy le, ra oai, làm bộ hổ báo súng đạn mà khí phách là thứ tiềm tàng, âm thầm tỏa cái quyền uy của nó lên bầu không khí xung quanh, lạnh lùng dứt điểm vấn đề không chút ăn năn vướng bận. Khí phách buộc cái đầu và trái tim tách bạch rõ ràng không dính dáng đến nhau để tôn trọng luật chơi tới cùng, vì đại cuộc.

Nếu như Kim Dung có thế giới võ lâm bàng bạc chất thần tiên, thì Mario Puzo có thế giới Mafia đậm chất hiện thực. Nhưng cả hai đều thi vị và hào hùng. Cái thi vị của Mafia là cái thi vị của người đàn ông hoang đàng dữ dằn khi đến với tình yêu và biến cái dữ dội trong mình thành sự si mê đắm đuối, bất chấp tất cả để chơi tới bờ tới bến. Và sự hào hùng của Mafia cũng như của thế giới kiếm hiệp chính là cái hào hùng uy vũ của LUẬT GIANG HỒ, dám chơi dám chịu, dám sống dám chết, dám đương đầu. Cuộc họp kín của các băng nhóm của thế giới ngầm trong The Godfather đâu có thua kém gì Đại hội võ lâm trong kiếm hiệp, và cũng chẳng khác gì cuộc họp của hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, có khác chăng chỉ khác có luật lệ mà thôi.

Sẽ thật thiếu sót nếu như nhắc đến tác phẩm này mà không nhắc đến dịch giả Ngọc Thứ Lang, người đã khai sinh tác phẩm này một lần nữa trên đất Việt Nam, với cách dịch ngang tàng vô tiền khoáng hậu, đậm mùi giang hồ đâm thuê chém mướn mà cùng vô cùng mùi mẫn trữ tình. Chỉ có Ngọc Thứ Lang mới dịch The Godfather thành Bố Già để từ đó Bố Già mãi mãi trở thành một danh từ chung chỉ Trùm bang hội. Cách sử dụng từ ngữ rất bình dân chất phác nhưng đắt giá, đọc thấy thấm vào mình tất cả vẻ hung hăng cục mịch mà dí dỏm tinh tế, chất giang hồ hiểm trở thủ đoạn mà pha chút ngây thơ, cợt nhả. Ngọc Thứ Lang đã làm sống dậy một thế giới ngầm đầy ma lực, đầy vũ bão nhưng cũng đầy yêu thương trìu mến. 

Gấp quyển sách lại, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là phải đọc thêm một lần nữa, một lần nữa, nhiều lần nữa, đọc đến thuộc lòng những đoạn tâm đắc, mà có khi thuộc cả quyển sách cũng nên. Đọc một quyển sách về thế giới ngầm đầy tội ác, vừa kinh sợ, vừa ngưỡng mộ, vừa cảm nhận được sự nguy hiểm đồng thời cảm nhận sự chân thành. Tại sao trên đời lại có một quyển sách cho ta nhiều cảm xúc đến như vậy ?

Hỡi những người đàn ông, giờ thì em đã hiểu

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Tiếng cười trong bóng tối

Chuyện ngoại tình. Bất cứ ai cũng có thể có một câu chuyện như thế trong đời. Chuyện cũ hơn cả thạp gạo của bà ngoại, vậy mà thế kỷ nào cũng có người nói, năm nào cũng có mấy trăm bài ca ai oán từ nạn nhân, từ kẻ chủ mưu, từ người liên đới. Nghe hoài có nhàm không? Kỳ lạ là nó không nhàm, chẳng biết ngoại tình nó có thứ gia vị gì mà khiến người ta có thể nhai hoài không ngán suốt chừng ấy năm tiến hoá của loài người. Được chưng cất từ nước trái cấm trong vườn địa đàng chăng?

Đây là một câu chuyện ngoại tình. Chán hơn, nó là chuyện ngoại tình điển hình, hết sức basic, với các nhân vật tham gia có một đặc trưng rất rõ nét của sự ngoại tình. Một ông chồng già (và giàu), tâm hồn nghệ sĩ, yêu cái đẹp ( và gái đẹp- dĩ nhiên). Một bà vợ hiền lành nhu mì nhạt phèo như nước ốc. Một cô nhân tình trẻ trung xinh đẹp, phóng túng và ờ, gian xảo. Thêm vào tấn tuồng để có thể cho ra một cái kết hả hê, là một tay chơi cáo già, tình nhân của cô tình nhân nọ. Bọn họ, bước ra sân khấu để sắm vở kịch của đời mình. Kẻ mù quáng, người ngây thơ, đứa lừa lọc và quân đê tiện. 

( các mẹ ở wtt sẽ nói gì =)) ? )

Chuyện thì hai năm rõ mười thế rồi, nói gì nữa mà nói. Thì đấy, sau đam mê mê muội sẽ là địa ngục, Albinus cuối cùng cũng có cái kết cục rất hợp với câu " tình yêu như trái phá con tim mù loà", không chỉ có tim, mà còn cả mắt cũng mù nốt. Nhưng đối với những người duy mỹ, thì mắt chẳng phải chính là tim sao? Mù hẳn, ngay từ ngày nhìn thấy Margot. Mù triệt để và không trăn trở, không dằn vặc. Cả một hành trình dấn thân vào địa ngục của Albinus không có lấy một lần ngoảnh lại, không một chút ăn năn. Tuy cũng như những người đàn ông khác, Albinus cũng tham lam và muốn bảo toàn cả hai, nhưng khi không thể bảo toàn nổi, ông ta chỉ thở nhẹ một cái rồi đi theo thứ mà bản năng mách bảo. Đây mới chính là nhân vật của Nabokov với cái đặc trưng bất chấp các giá trị đạo đức để trung thành với trái tim, hệt như Humbert của Lolita. Và cũng như Humbert, Albinus cũng chuốc lấy cái kết cục đau đớn bẽ bàng, cái kết thỏa mãn cả nạn nhân lẫn người đọc, cái kết tìm được chút hả hê của người đời, có thể sử dụng để răn dạy và đe dọa những người manh nha lao vào con đường ấy.

Nhưng Nabokov có định kể một câu chuyện để dạy dỗ hay cảnh cáo ai đâu? Ừ, thì kết cục thảm hại thế, nhưng bạn có thấy một hành trình đầy hạnh phúc của Albinus không? Dù cho nó là thứ hạnh phúc đến từ sự dối lừa, dù thứ ánh sáng tưới tắm cuộc đời ông ta lúc đó chỉ là ảo ảnh, nhưng cảm xúc là có thật. Bạn có thấy trái tim ông ta đập liên hồi kỳ trận không? Bao lâu rồi nó không đập như thế, bao lâu rồi nó nhúc nhích trong lồng ngực đều đặn như tiếng tích tắc của đồng hồ? Nói thế để biết rằng, vì sao ngoại tình đã được dán mác nguy hiểm, như thể dán lời cảnh báo kinh khủng lên các bao thuốc lá, mà đời này người ta vẫn lao vào với một sức mạnh không thể cưỡng lại được. Chính là cái ma lực ấy đấy, ma lực của sự thăng hoa xúc cảm, thứ mà người trong cuộc mới hiểu, đứng ngoài thì không hiểu nổi đâu.

Thế nên, người ta sẽ vẫn còn đay nghiến mãi câu chuyện ngoại tình. Và chừng nào người ta còn quên đi rằng trong hôn nhân còn có tình yêu, thì ngoại tình vẫn luôn là một phần của cuộc hôn nhân ấy. Tôi không cổ vũ ngoại tình đâu, nhưng bởi vì duy trì một tình yêu dài suốt chặng đường hôn nhân không phải là một điều dễ dàng, thì nên chăng chúng ta chấp nhận việc ngoại tình là một phần của  hôn nhân ngay từ buổi đầu, vậy thì sẽ đỡ đau đớn và bất ngờ, bớt cay đắng hơn chăng? Và biết đâu, nhờ cái tâm thế ấy mà chúng ta có thể giữ cho cuộc hôn nhân của mình không nghiêng về ranh giới của sự ngoại tình. Tất nhiên là chỉ khi mà chúng ta còn muốn.

Thế nhưng, để bước từ lý thuyết này ra thực tế, hẳn là một con đường rất dài. Vậy nên người ta sẽ còn nói về chuyện ngoại tình rất lâu sau đó nữa. Chuyện vẫn còn nhiều tập :))

Thánh đường

Đỉnh cao của nghệ thuật chính là sự dung dị. Điều này cũng đúng với cuộc sống. Khi bạn có thể sống một cách dung dị, thì có nghĩa là bạn đã bình tâm. Và tôi nghĩ ngay về Raymond Carver, một cây bút thật sự dung dị của thế giới này, mặc cho chính điều đó đã đem lại cho thế giới không ít sự tranh cãi lẫn choáng ngợp bởi sức công phá cảm xúc mãnh liệt chính bằng sự dung dị ấy.

Raymond quả thật rất kiệm lời. Hơn cả Hemingway lẫn O. Henry cộng lại. Ông thu mình trong tất cả các câu chuyện mình kể, chỉ còn để lại một đôi mắt trong veo và thấu suốt, để nhìn mọi vật, mọi người một cái nhìn chân phương không chút phán xét. Ông triệt tiêu cái tôi của bản thân để tôn trọng hiện thực. Những hiện thực rất bình dân và giản dị, những nỗi đau thông thường tới mức không còn được xem là nỗi đau, những tan vỡ đã chai sạn đến mức không còn ai nghĩ rằng nó là một mảnh vỡ, thì Raymond kể về chúng, miêu tả chúng. Ông kể thong thả, đôi khi là thờ ơ, ông không cố gắng đi tìm bất cứ cái gì, kể cả sự kịch tính trong những cuộc tranh cãi, kể cả đau đớn trong những lần mất mất, sự tổn thương, sự chia ly... Đó không phải là việc của Raymond. Đó là nhiệm vụ của chúng ta.

Bởi vậy, sách của Raymond Carver sẽ không dành cho những độc giả muốn được dẫn dắt hay đi tìm thứ cảm xúc của người khác. Nó dành cho ai muốn tự mình khai phá cảm xúc của chính mình trước một bối cảnh thông thường của cuộc sống, cho những ai đủ tinh tế để nhận diện diện sóng ngầm dưới bề mặt phẳng lặng, những mâu thuẫn và xáo trộn dưới khuôn mặt dửng dưng. Văn chương của Raymond vì thế mà đầy sức mạnh và bất ngờ, với mỗi lần đọc ta lại nhận diện được một tầng cảm xúc khác nhau từ một khung cảnh đã hết sức quen thuộc. Sự bất ngờ khiến ta cảm động, thứ cảm xúc đọng mãi như khi uống cạn một tách trà bất ngờ nhận ra vị ngọt của nó còn lưu lại nơi đầu lưỡi. Cô đọng, chính xác và đầy dư vị.

Thánh Đường là tập truyện ngắn được Raymond Carver viết sau thời gian cai nghiện rượu. Trở lại với cuộc sống sau khi ngập chìm trong men rượu và những nỗi bế tắc, những câu chuyện của Raymond đã lấp lánh ánh sáng của niềm tin và tình yêu. Dù vẫn là những bối cảnh đầy ngột ngạt, những cuộc chia ly và đổ vỡ, nhưng cuối câu chuyện luôn có một sự gợi mở thông thoáng, một hướng đi có hứa hẹn hay một tâm trạng được giãi bày để nhẹ nhõm hơn. Nó giống như một cơn đau âm ỉ dai dẳng tới cuối cùng đã có dấu hiệu vơi đi, sự rộng mở của cuộc đời vì thế được tăng lên, những hạnh phúc nhỏ nhoi vốn hiếm khi xuất hiện trong câu chuyện cũng bắt đầu nhú những cái mầm bé nhỏ. Nhưng tuyệt đối Raymond không kết luận điều gì. Tin hay không tin, yêu hay không yêu vẫn là lựa chọn của độc giả.

Là một tác giả đi theo trường phái tối giản, Raymond đã lao động miệt mài với những tác phẩm của mình, đi tìm cho câu chuyện một thứ văn chương cô đọng, súc tích và nhiều hàm ý nhất. Giống như một nghệ sĩ gọt giũa tác phẩm nghệ thuật cho tới ngày nó đạt được sức mạnh biểu cảm tuyệt đối, Raymond cũng viết đi viết lại cùng một câu chuyện ấy, càng viết càng bỏ được những từ ngữ và hình ảnh thừa thãi để tìm cho tác phẩm một sự ngắn gọn tinh giản tuyệt vời. Nhưng điều quan trọng nhất trong quá trình gọt giũa ấy, Raymond không nhúng tay vào bất kỳ một hình ảnh nào để biến nó trở nên phù hợp với ý đồ của mình, ông không bóp méo bất cứ thứ gì để thể hiện cái tôi của mình. Ông chỉ thu nhặt, lựa chọn và ghép chúng lại với nhau, bằng một mối dây liên hệ nào đó mà chúng ta phải lần tự lần tìm và kết nối. Câu chuyện vì thế bình thường nhưng đầy thách thức và dằn vặc, cũng như chính cuộc đời vốn đơn giản nhưng sâu thẳm không ngờ. Đó chính là thứ nghệ thuật mà Raymond tìm kiếm, sự dung dị mà ông đã kính cẩn xây dựng và tổ chức nên trong tác phẩm của mình. Sự dung dị của cuộc sống.

Lịch sử tình yêu

Để đọc cuốn sách này, điều đầu tiên bạn cần có là lòng kiên nhẫn, và tốt nhất không nên hiểu lầm rằng đây là một cuốn tiểu thuyết diễm tình yêu đương lai láng. Thật ra thì nó có hết đấy - tình yêu có rất nhiều, nhưng bạn chỉ có thể cảm được nó sau khi đã vượt qua được rất nhiều khung cảnh ảm đạm, rất nhiều nỗi buồn nặng nề và rất nhiều nỗi cô đơn. Nó không phải là một cuốn sách khơi dậy yêu đương phừng phừng như ngọn lửa, mà nó chỉ cho bạn một thứ rung động âm ỉ trong tim, một thứ tiền đề cho mọi thể loại tình yêu trên thế giới : sự đồng cảm.

Lịch sử tình yêu được viết với một kết cấu khá hỗn loạn, và nếu 20 trang đầu tiên bạn không bật khóc hoặc ngủ gục vì những số phận quá buồn tẻ và quạnh quẽ, thì trong hơn 100 trang tiếp theo, sự kiên cường của bạn vẫn chưa được tưởng thưởng đâu, bởi tới chừng đó rồi mà bạn vẫn chưa tìm được cách kết nối sợi dây của các số phận. Những nhân vật dường như không biết gì về nhau, ở cách xa nhau và tới từ những vùng khác nhau trên thế giới. Tất cả những gì mà ta có thể vin vào là một cuốn sách cũ mèm có tên là Lịch sử tình yêu, cuốn sách lưu lạc qua nhiều thăng trầm và biến cố để kết nối những con người xa lạ, để sau này gặp gỡ nhau trong một mối đồng cảm không ngờ.

Như đã báo trước, đây không phải là một thỏi chocolate ngọt ngào của tình yêu. Nó kể cho ta về tình yêu trong một vài trang, phần lớn những trang còn lại là những vết thương của tình yêu cùng hàng tá bi kịch. Leopold Gursky, thợ sửa khoá suốt 50 năm, chẳng còn gì ngoài một thân hình rệu rã và một trái tim đã tan nát chừng ấy năm về trước. Một cuộc sống ảm đạm đơn côi, một cuộc sống vô hình tới mức ông ấy sợ phải chết đi trong thinh lặng không ai đoái hoài. Bi kịch tiếp theo là Charlotte Singer, vợ một người thám hiểm. Họ đã hạnh phúc bên nhau cho đến ngày ông ấy chết đi, để cô sống tiếp cuộc đời với một ngọn lửa đã lụi tàn trong tim, rơi vào một trạng thái gần như thờ ơ với cuộc đời. Sống để đợi chờ một ngày sẽ chết.

Nhưng ông ấy, cô ấy vẫn sống, không ai chọn cái chết ngay khi tan nát con tim. Họ vẫn cứ sống tiếp và đương đầu với những nỗi đau khổ. Dường như đau khổ cũng làm được cái việc mà nó nên làm, là nhắc ta nhớ về những ngày tháng hạnh phúc đã mất đi. Như Leopold, ở tuổi tám mươi vẫn đi tìm câu trả lời cho nụ cười của Alma hơn sáu mươi năm về trước. Cả cuộc đời ông, nhớ nhung hoài hình bóng một người con gái đã từ rất lâu không thuộc về mình. Nỗi nhớ đem những hạnh phúc đã xa đến với hiện tại, và trong một vài giây phút ngắn ngủi nhớ nhung, có thể ta sẽ nhận ra rằng, còn nhớ nhung là vẫn còn lưu luyến cuộc sống.

Cuối cùng, khi đọc hết cuốn sách này, tôi nhận ra là mình không quan tâm lắm đến hành trình tìm nhau của hai nhân vật chính. Tôi thích và cảm động với những mối quan hệ ở cự ly gần hơn. Tình cha con lặng lẽ giữa Leopold và Issac, tình mẹ con giữa Charlotte và Alma, tình bạn già giữa Leo và Bruno, tình chị em, chồng vợ... Tất cả những nhân vật trong cuốn sách này đều đối đãi với nhau bằng tình yêu, chỉ có cuộc đời là gian ác, đâm hết người này đến người kia những nhát dao. Nhưng rồi ở cuộc gặp gỡ cuối cùng, tôi nghĩ là bất chấp cuộc đời có ra làm sao, thì chỉ mỗi việc ta biết yêu thôi cũng cứ khiến ta hạnh phúc, theo cách mà chúng ta lựa chọn. 

"
Ngày xưa có một cậu bé yêu một cô bé, tiếng cười của cô là câu hỏi mà cậu muốn dành cả cuộc đời để tìm câu trả lời.

Sau này – khi những chuyện họ không tưởng tượng nổi xảy ra – cô viết cho cậu một lá thư có đoạn: ”Khi nào anh mới hiểu rằng không có ngôn từ cho tất cả?”
"

Thị trấn Tortilla Flat

Tôi có nhiều thiện cảm với miền Tây Hoa Kỳ. Con người ở đó có những cá tính mà tôi thích, à mà không, nói thật luôn, là tôi ngưỡng mộ. Điên rồ, hài hước, bất cần, phóng túng và hết sức yêu đời. Cả một tuổi thơ dài ngồi ngắm miền Tây dưới móng ngựa Jolly Jumper, con ngựa láu cá của trùm cao bồi Lucky Luke, hàng loạt nhân vật hiện ra rất sống động, quái dị và điển hình. Từ cao bồi, ăn cướp, chủ quán rượu, gái làng chơi, lão nhà đòn cho đến da đỏ, ba Tàu và đặc biệt, một tay người Mễ Tây Cơ chuyên ngủ ngồi suốt các bức tranh. Tuy xuất hiện như một phông nền trong câu chuyện, nhưng nhân vật vô danh này chưa bao giờ vắng mặt trong bất kỳ truyện ngắn nào, dù bao giờ cũng ngủ, hoặc thức dậy để thì thào một bí mật nào đó, tiền đề cho các cuộc đấu súng hoặc rượt đuổi vô tiền khoáng hậu. Hoạ sĩ Morris đã nghiên cứu kỹ lưỡng bức tranh viễn Tây thời kỳ ấy, và những người gốc Mễ môi dày da nâu mập lùn uể oải trong cái nắng sa mạc gần như là hình ảnh tiêu biểu, một phần không thể thiếu của miền Tây Hoa Kỳ. Giờ đây tôi gặp lại họ, những paisano trong thị trấn Tortilla Flat của John Steinbeck, không làm phông nền, dù cũng ngủ suốt, nhưng đã trở thành những nhân vật chính.

Paisano giờ đây không thuần chủng Mễ như thời Lucky Luke lang thang. Họ lai nhiều dòng máu, tuy da vẫn nâu và vẫn sống bên rìa nên văn minh đang lao tới như một cơn lốc. Thế nhưng với John Steinbeck, họ thật sự là những người thú vị và đáng yêu và ông không định giễu cợt hay châm biếm họ - dù trong câu chuyện này thì những Paisano hiện lên theo kiểu các nhân vật trong một bức biếm họa. Steinbeck thậm chí đã sử dụng truyền thuyết về vua Arthur và hội bàn tròn để làm nền cho câu chuyện ( tiện đây, cũng xin phản đối luôn cái hình ảnh Chí Phèo và làng Vũ Đại được đem ra so sánh ở text bìa và lời giới thiệu, mà tôi thấy chả liên quan gì), một câu chuyện trông có vẻ rất thiếu nghiêm túc nhưng thực ra lại rất chân thành.

Khoảng một nửa cuốn sách, tôi phát bệnh vì Danny và các bạn của chàng. Cứ như họ mới trở về từ sao hỏa nhưng hoàn toàn bất chấp luật lệ trái đất. Cả lũ sống như người thượng cổ : đói thì ăn, mệt thì ngủ và sợ nhất là có tài sản trong tay, vì một quan niệm rất kiên cố, tài sản đi kèm với trách nhiệm. Bởi thế mà Danny, có hai căn nhà làm của nả, đã cập rập đem ngay một căn cho lũ bạn mình thuê, để trút gánh nặng này sang cho họ. Một thương vụ mà người thuê không trả tiền, người cho thuê cũng chẳng buồn đòi tiền, họ cứ thế nạp thêm người vào căn nhà ấy để có người gánh giùm trách nhiệm. Khi trách nhiệm quá lớn, căn nhà bốc cháy, cả bọn thở phào và dọn sang ở ngay căn còn lại. Từ đó, họ sống hạnh phúc bên nhau theo mốt cách thức rất tuỳ tiện và tuỳ cơ ứng biến, kiểu gì cũng được. 

Thoạt đầu, tôi không chịu đựng nổi lối sống buông tuồng, kiểu ngụy biện láu cá cho mục đích của bản thân- vài ga lông rượu. Nhưng rồi tôi ngạc nhiên thấy họ sống tốt chán, và vui vẻ bên nhau, dù đứa này lợi dụng đứa kia một ít, nhưng nói chung là hài lòng và mãn nguyện. Rồi từ từ tôi thấy họ tốt, một kiểu tốt hồn nhiên, không sâu xa, không suy tính - cứ như lương tâm cấu véo họ chỗ nào thì họ xử chỗ đó. Và rồi tôi thấy họ đẹp, lương thiện và ấm áp chan thành. Giống như hành trình đi vào một thế giới toàn những người ta tưởng họ điên nhưng ở lâu hơn thì nhận ra họ rất tỉnh táo, Tortilla Flat là một nơi như thế. Hoàn toàn tỉnh táo và đáng yêu, Danny và các bạn của chàng. Chỉ có điều ta chưa nhận ra vì ta còn sống chung với quá nhiều luật lệ và định kiến. Còn họ, họ sống ở ngoài, mà thực ra họ cũng không quan tâm là ở ngoài hay ở trong vì với họ nó không tồn tại. Ta thấy họ đã được giải thoát, còn họ thì họ nghĩ đã bị trói bao giờ đâu :)

Những chàng Paisano, dễ thương hơn tôi tưởng. Còn cuốn sách, thì hay ho hơn tôi tưởng. Tất nhiên rồi, John Steinbeck là ai chứ? Nobel văn chương. Nhưng nói thật tôi mới đọc một cuốn này của ông ấy thôi, còn Nobel thì đâu phải cuốn nào đọc cũng nổi he he. Nghe bảo rằng Đại suy thoái sách của ông rất thất bại, bán được hơn ngàn rưỡi cuốn thôi. Con số ấy mà áp vào thời hoàng kim của chúng ta hiện nay, thì gọi là một thành công rực rỡ đấy các bạn. Ước gì mà tôi có tinh thần lạc quan bất diệt của các Paisano :))

Bay trên tổ chim cúc cu

Dạo gần đây, khi xem thời sự hay đọc báo, tôi hay nghĩ về cuốn sách này, câu chuyện này. Sau gần nửa thế kỷ có mặt trên đời, nó vẫn nói đúng y chóc về chúng ta, những con bệnh kinh niên, những con bệnh cấp tính, những con bệnh vì yếu đuối bạc nhược nên không dám lựa chọn tự do để dần dần lãng quên tự do, để sống một cuộc đời mỏi mòn héo hắt.

Mc Murphy ở đâu, giờ đây thật khó để tìm được một con người như thế giữa một rừng người toàn là bệnh kinh niên với cấp tính, thật khó để nghe được giọng cười hào sảng khinh khoái  giọng cười bạt mạng thơ ngây. Giờ đây chúng ta chỉ còn một lũ người với những viên thuốc tê liệt não, những kẻ để sống an toàn phải giả câm giả điếc như Bromden, những mụ y tá như Ratched cười ngọt ngào một cách vô cảm và tàn nhẫn, những tay hộ lý căm thù đồng loại của mình. Chúng ta chỉ còn những khát vọng tự do đã bị lãng quên.

Không có cuốn sách nào tưng bừng hơn, và đau buồn hơn cuốn sách này. Nó nhắc ta nhớ về tự do và cũng nhắc ta về cái giá phải trả của tự do. Không có cái chết nào ám ảnh hơn cái chết của Mc Murphy, chết như một kẻ bị hút cạn linh hồn, hút cạn lòng nhiệt huyết và niềm vui sống, chết như bị hoá đá. Một cái chết đánh động và thức tỉnh tới bàng hoàng, rã rời, tới cay đắng, tới nghiệt ngã. Mọi thứ diễn ra đúng quy luật của nó, thản nhiên lạnh lẽo như gương mặt mụ Ratched, kẻ cai trị người khác bằng gót chân Achilles của chính họ.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Moon Palace

Moon Palace - Cô đơn như một tinh cầu.

Không khó để đọc sách của Paul Auster. Ông ấy có lối viết, lối kể chuyện rất Cine, nghĩa là mạch truyện, cấu tứ, hình ảnh đều mang hơi hướm của một bộ phim với các nhân vật được xây dựng rõ ràng, có điểm nhấn, có đặc trưng và câu chuyện được kể rành mạch liên tục không hề đứt quãng. Nhưng kể cũng hơi mệt cho người đọc khi phải cầm trên tay cuốn sách của Auster, phải đọc cho tới tận trang cuối cùng mới buông xuống được, không được quyền nghỉ xả hơi giữa hiệp, vì nếu đọc giữa chừng, chắc hẳn sẽ phải nhấp nhổm đứng ngồi không yên vì số phận các nhân vật trong đấy, vì vô vàn câu hỏi to đùng đã giăng ra khắp nơi mà chưa kịp giải đáp. Để yên ổn sống tiếp, tốt nhất là cứ phải đọc cho xong :))

Moon Palace là câu chuyện về những số phận cô đơn, bị đẩy vào cảnh cô đơn hoặc lựa chon cô đơn- thôi thì đằng nào cũng cô đơn. Cuộc đời họ dính với nhau, bằng sự tình cờ, nhưng cũng bằng định mệnh. Cô đơn có vẻ như là một căn bệnh di truyền, từ đời ông, đời cha cho tới đời cháu. Mỗi người mắc bệnh theo một cách riêng nhưng mầm mống của nó khởi đầu từ cái khát vọng theo đuổi tự do, từ ngày mà ông già Effing bỏ hết tất cả để đến với thế giới hoang dã, nơi ông tưởng có thể trãi hết tâm hồn mình vào sự rộng lớn khôn cùng của nó. Nhưng những gì ông đem về chỉ là một cuộc đụng độ giữa tâm hồn nghệ sĩ và hiện thực xấu xí tan hoang, và cuộc đào thoát đến với tự do của ông còn để lại trong cuộc đời người vợ và đứa con trai ông một khoảng trống mênh mông không ai lấp nổi. Kể từ đó, nỗi cô đơn theo chân con trai ông đi song hành với số phận nó, rồi truyền xuống đứa con trai của nó - tức cháu nội của ông. Nỗi cô đơn lang thang từ thế hệ này sang thế hệ khác, tỏa cái ánh sáng mênh mang nhợt nhạt mà ám ảnh của nó lên cuộc đời từng người, buồn bã, uể oải tới phát điên, tới bệnh hoạn.

Mặt trăng là hình ảnh được Paul Auster sử dung như một biểu tương của sự cô đơn. Mặt trăng lang thang trên bầu trời, tự do trong hành trình và đơn độc trong hành trình. Ánh sáng của nó lúc rực rỡ lúc nhạt nhòa, giống như nỗi cô đơn của 3 người đàn ông trong câu chuyện, lúc mạnh mẽ, lúc âm ĩ, khi phát điên tới bệnh hoạn, lúc buông xuôi như chìm vào vũng lầy không muốn thoát ra. Nhưng mặt trăng chưa bao giờ biến mất trên bầu trời, cũng như nỗi cô đơn chưa từng rời bỏ ta đi. Với bất cứ bầu không khí nào, mối quan hệ nào, tình yêu nào, hận thù nào, mặt trăng vẫn ở đó, tỏa ánh sáng của nó lên cuộc đời và số phận của những con người, nhắc nhớ về một khoảng trống mênh mông quạnh quẽ trong trái tim, nơi nỗi khát vọng tự do từng thống trị .

Moon Palace – làm tui nhớ đến Hoàng tử bé. Cậu hoàng con cô đơn lang thang trong vũ trụ với trái tim ngây thơ và thiết tha. Moon palace – một tinh cầu rực rỡ cô đơn, nhạt nhòa cô đơn, chưa bao giờ thôi cô đơn. Paul Auster bao giờ cũng bắt người ta trả giá cho lựa chọn của mình. Và cô đơn chính là cái giá của tự do, trả hoài không bao giờ hết  :D

P/s : bạn đừng bao giờ cố chỉ ra sự phi lý hay đi tìm logic hay hiện thực gì đó trong cuốn sách này. Chuyện đó vô nghĩa :D

Dòng sông kỳ bí

Cái tên Dennis Lehane xuất hiện ở Việt Nam lần đầu tiên, đã gây một cú ép phê nho nhỏ trong lòng người đọc sách lẫn xem phim, bằng cuốn sách lẫn bộ phim đã được chuyển thể chính từ cuốn sách ấy, cùng cái tên ấy : Shutter Island - Đảo kinh hoàng. Lần thứ hai Dennis quay lại, bằng cuốn tiểu thuyết cũng được chuyển thể thành phim khác : Mystic River

Cũng như Nguyễn Ngọc Tư , viết Sông rồi mới viết Đảo, Dennis cũng viết Mystic River trước Shutter Island :)) Mystic River không có cái kết gây shock cũng như những tình huống kinh dị đến ngạt thở, không có cái vẻ âm u bí hiểm cũng như những nỗi bàng hoàng; cuốn sách này đời thường hơn, tĩnh lặng hơn, như một dòng sông cứ thờ ơ trôi theo ngày tháng, giấu tận đáy lòng mình những tăm tối uất ức cứ sôi sục, âm ỉ chực trào. Rồi một ngày kia nó trào lên thật.

Câu chuyện được kể một cách trật tự, lớp lang theo dòng thời gian, tưởng như chuyện nào chuyện ấy đã sáng rõ dưới ánh mặt trời, ấy thế mà người nào người nấy cứ phải gọi là tràn trề bí mật. Bí mật được đào sâu, chôn chặt tận đáy lòng, dưới vẻ mặt thờ ơ, trầm tĩnh nhưng bí mật hoàn toàn không thể nằm yên bởi nó còn quá nhiều điều không cam tâm, không giải tỏa, không tiêu hóa nổi. Thế nên bí mật cứ như một con quái vật âm thầm lớn lên trong tâm hồn những đứa trẻ, cho đến khi chúng trưởng thành thì con quái vật ấy cũng lớn với đầy móng vuốt và khát máu.

Dennis không kể một câu chuyện trinh thám, dù trông có vẻ như vậy. Cũng không kể một câu chuyện kinh di, bởi vì nó không phải thứ chuyện khủng khiếp mà người ta đem ra hù nhau. Nó là một câu chuyện mà thỉnh thoảng chúng ta phải đối mặt trong đời, dù muốn hay không : là chết chóc, mất mát, chia lìa, tổn thương, mặc cảm, là đau đớn, là nhục nhã ề chề. Tất cả những cảm giác ấy, chính là cái bóng ma kinh khủng nhất mà chúng ta phải gặp chứ không phải những ảo ảnh từ nghĩa địa hay những con ma cà rồng bước ra từ truyện tranh. Và cứ thế, Dennis kể một cách chậm rãi câu chuyện cuộc đời của ba người bạn, mà số phận đã chia cắt họ bằng nỗi ám ảnh từ tuổi thơ, dù vẫn sống đâu đó quanh quẩn bên nhau nhưng mỗi người đã tự xây cho mình một bức tường ngăn cách với người kia bằng thứ mặc cảm tội lỗi và những uất ức căm hận không sao giải tỏa nổi. Càng ngày bức tường càng cao, tâm hồn càng tăm tối và dòng sông- cuộc đời họ vì thế càng lúc càng sâu, càng nhiều sóng.

Hiếm khi đọc một cuốn truyện trinh thám gây ra cảm giác yên tĩnh như thế. Chẳng có gì giật gân hết, chẳng có gì đột ngột hoặc thất kinh hồn vía cả. Chỉ có một cảm giác u sầu nặng nề càng đọc càng đi dần dần vào trong người, khiến tâm hồn trĩu xuồng, tan nát vì những câu chuyện mà ta biết chắc là có thật, chẳng có gì là hư cấu; nó thật và trần trụi như cuộc sống, và buồn bã bế tắc như là cuộc sống. Cái ám ảnh của câu chuyện nằm ở chỗ đó, cái chỗ rất thật mà khôn cùng ấy, cái chỗ mà tâm hồn con người càng soi rọi càng thấy mịt mờ , càng lặn sâu càng không tìm thấy đáy ấy. Và con người càng lúc càng lún sâu vào trong nỗi ám ảnh khôn nguôi ấy, chưa bao giờ thoát được ra khỏi nó.

Cho nên, không thể  gọi đây là một cuốn tiểu thuyết trinh thám-kinh dị thông thường được nữa.

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

The Great Gatsby - Đại gia Gatsby

Cho dù có hơi thất vọng về cái tựa mà Trịnh Lữ đã giành cho The Great Gatsby của Fitzgerald , thì tui cũng phải công nhận đây là một bản dịch tốt, và phù hợp với tinh thần của cuốn sách. Trịnh Lữ có một lối dịch hơi hoa mỹ, áp vào thật hợp với bầu không khí hào nhoáng, thế giới phù hoa mà Frizgerald tạo dựng nên. Một bầu không khí Mỹ, một giấc mơ Mỹ và một kết thúc kiểu Mỹ, Fritzgerald cũng vĩ đại như chính Gatsby vậy.
Như một biểu tượng của giấc mơ Mỹ những năm 20 của thế kỷ trước, Gatsby là đại diện cho một lớp người từ tay trắng làm nên sự nghiệp, đổi đời trong một cái chớp mắt. Gatsby vượt qua lằn ranh giới giữa nghèo hèn và xa hoa lộng lẫy chỉ trong một đêm, để lại sau lưng một khoảng mênh mông đen ngòm về thân thế và bí mật đời tư cũng như cách thức làm giàu. Người đàn ông giàu có bí ẩn mang một tình yêu vô vọng , nó gần như là hình ảnh của bá tước Monte Cristo , cổ điển một cách gợi cảm kèm theo một tinh thần xa xỉ rất thời đại. Gatsby chính là giấc mơ ngọt ngào mà biết bao nhiêu người của thời ấy ấp ủ.


Nhưng thế giới phù hoa ấy không hề cho không ai một cái gì. Để vươn tới tột đỉnh vinh quang, Gatsby đã gần như hiến sinh cuộc đời mình cho thế giới ấy. Cơn lốc phù phiếm và những buổi tiệc thâu đêm suốt sáng nghiền cuộc đời Gatsby trong bánh xe lộng lẫy của nó, bằng ảo vọng, bằng ngọt ngào, bằng rực rỡ để rồi cuối cùng tan đi trong một tích tắc mỏng nhẹ như tiếng vỡ của bong bóng xà phòng. Cả một bệ đỡ và hệ thống hùng hậu đằng sau giải tán nhanh còn hơn diễn viên của đoàn kịch đêm bế mạc. Chỉ còn lại Gatsby hiện nguyên hình là một nạn nhân không ai đoái thương của một thời đại phù du chất đầy những cái nhìn ruồng rẫy. 

Nhưng chỉ như thế thôi thì Gasby đâu có vĩ đại. Như một con thiêu thân hiến sinh cho ngọn lửa, Gatsby cũng lao đầu vào thế giới phù hoa đó bằng tất cả lòng tin và trái tim mình. Để rồi, dù là một con thiêu thân, thì ở Gatsby vẫn tồn tại một phẩm chất anh hùng không bao giờ bỏ cuộc, dám chiến đấu tới giây phút cuối cùng cho một ảo mộng, cho một tình yêu vốn đã tắt lịm đâu đó buổi ban sơ. Gatsby dù dâng hiến đời mình cho thế giới phù phiếm , nhưng vẫn không giống những kẻ trong thế giới ấy. Gatsby vẫn giữ được cho mình tâm hồn ngây thơ và lòng tin mãnh liệt vào tình yêu. Đó là điều khiến Gatsby trở nên vĩ đại, cái vĩ đại điên cuồng, đáng thương, đáng ngưỡng mộ.

Thật ra thế giới phù hoa ấy không có gì đáng chê trách hay phê phán. Nó ở đó có lý do mà lịch sử đã chỉ ra. Ngọn lửa tuy tàn nhẫn nhưng vẫn có vẻ đẹp của nó, Daisy tuy hời hợt phù phiếm nhưng vẫn mang nét quyến rũ của sự phù phiếm hời hợt. Chỉ có điều Gatsby và những người đã mơ giấc mơ ấy không nhìn ra bản chất của thứ họ đang lao vào, không nhận ra sau vẻ đẹp lộng lẫy là tất cả những bất trắc , tráo trở của cuộc đời. Cái chết của con thiêu thân, xét cho cùng là lỗi của nó hay ngọn lửa? Chúng ta không biết được đâu

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

Ruồi trâu

Tôi xếp Ruồi Trâu vào dạng tiểu thuyết tình cảm lãng mạn, cho dù người ta có nhắc tới nó như một cuốn sách về lý tưởng cách mạng, về tinh thần chiến đấu hay một số thứ tương tự. Người ta chỉ thấy cái mà mình muốn thấy, có lẽ thế.

Nói về tình yêu trong cuốn sách này, tôi thấy thú vị vì nó không đi vào tình yêu đôi lứa thuần túy. Tình yêu đôi lứa bị lép về bởi một thứ tình cảm còn mãnh liệt và thời sự (2012) hơn thế : đó là sự ngưỡng mộ tới sùng bái tới cực đoan. Điều này, không chỉ riêng cha Montanelli mới có.

Athur cũng vậy, tình yêu của anh dành cho cha Montanelli chẳng khác gì tình yêu của Montanelli dành cho Chúa. Trong mắt Athur, ông hoàn toàn là một vị cha xứ trong sạch, liêm khiết với trái tim độ lượng và sự uyên bác sáng ngời. Tình yêu đó, không nhuốm chút nghi ngờ, chút trần tục, chút bụi bặm, nên tình yêu đó không kìm nổi mình mà bước qua giới hạn của tình yêu để biến thành nỗi oán hờn, căm phẫn chỉ vì một vết nhơ trên mình của tượng đài mà mình trót xây dựng. Athur trở thành Rivares sau nhiều năm lưu lạc, với vô số vết thương trên da và trong trái tim để trở thành một nhân vật sắc sảo độc địa, biết nói những lời cứa thẳng vào tim người khác để rồi sau đó tim mình cũng te tua chẳng kém gì. Rivares, mãi mãi vẫn là Athur, cũng như nỗi hờn căm của Rivares, vẫn cứ là một tình yêu mãnh liệt.

Montanelli và Athur, họ giống nhau, vì họ là cha con ruột. Họ giống nhau nên đến phút cuối cùng họ không từ bỏ nổi bức tượng thánh của mình. Họ yêu thương nhau mà không nhận ra mình giống nhau để tha thứ cho nhau và tha cho cả trái tim tan nát của mình. Đến phút cuối cùng, cả hai vẫn để cho lý trí mình giành phần thắng, cho phép nó dẫm lên trái tim mình một cách hiên ngang. Để sống với lý tưởng, người ta phải tàn nhẫn với bản thân mình.

Rivares là một chiến sĩ cách mạng. Ừ thì cứ cho là thế. Một chiến sĩ cách mạng sống với lý tưởng hoài bão mạnh mẽ đến mức không cho phép trái tim vô ý đặt lên đầu. Thôi thì trái tim cứ đặt nguyên chỗ của nó,  trong một tâm hồn đầy thương tổn của một con người yếu đuối tên Athur.

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

Hội hè miên man

Cuốn sách này không có cốt truyện. Nó chỉ là nỗi nhớ miên man của Ernest Hemingway về những năm tháng thanh xuân ở Paris. Mà tuổi thanh xuân thường là những ký ức đeo bám trí nhớ người ta dai dẳng nhất, còn Paris thì chưa có ý định cho ai cơ hội để lãng quên về nó nếu đã đến đây.

Tôi chưa từng thích Hemingway. Tôi không thích cách ông viết những câu ngắn theo kiểu đơn giản hết mức có thể, cách ông tường thuật những đoạn đối thoại với những câu gạch đầu dòng rồi không thêm bớt và miễn bình luận về nó. Nói chung thì tôi không thích cảm giác bị rơi vào trong một cuốn phim tài liệu, hay một cái gì đó đại loại thế. Nhưng Hội Hè Miên Man là một cuốn phim tài liệu nồng nàng cảm xúc, cho dù vẫn là Hemingway với văn phong ngắn gọn không đoái hoài gì đến biểu cảm. Nhưng cần gì, nó đang kể về những năm tháng ở một nơi mà chữ nghĩa nhiều chỉ tổ đánh lạc hướng cảm xúc của người đọc. Và lần đầu tiên tôi thấy thích vô cùng sự ngắn gọn đầy khí chất ấy.

Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong tuổi thanh xuân thì dù có đi đâu trong suốt đường đời còn lại, Paris vẫn ở trong bạn, bởi Paris là một cuộc hội hè miên man.

Paris là một cuộc hội hè miên man, và thanh xuân của chúng ta cũng là một cuộc hội hè còn miên man hơn thế. Tuổi hai mươi của Hemingway tràn trề cảm hứng và nhu cầu được viết, còn Paris thì luôn có đủ chỗ cho bất cứ ai muốn sáng tạo, dù kẻ đó giàu sang hay nghèo kiết xác, mạnh khỏe tươi mới hay đã tàn tạ theo tháng năm. Paris có đủ bầu không khí rực rỡ lẫn u hoài, có những chốn từng bừng và những góc khuất lặng lẽ. Paris cho ta cảm giác về nỗi tràn trề lẫn niềm mất mát cũng như đủ sức nâng sự thiếu thốn lên tầm thơ mộng rồi hạ bệ sự đủ đầy xuống vực của chán ngán. Paris luôn là Paris, chỉ có người ta dường như là khác hơn khi đến đó.

Paris, nơi tề tựu của hầu hết những gương mặt nghệ sĩ sáng giá của nền nghệ thuật đương đại, nơi tôn vinh của những sự sáng tạo đầy ngông cuồng. Paris cho Hemingway cơ hội nhìn thấy cái đẹp của sự ngông cuồng ấy và cả cái giá phải trả cho nó. Tôi thích cách Hemingway kể chuyện mà không chút phán xét hay đánh giá gì. Có một chút tò mò của tuổi hai mươi, nhưng rồi ông chấp nhận nó ngay không ngần ngại. Bạn sẽ gặp rất nhiều nghệ sĩ tiên phong của thế kỷ 20 ở Paris, ngạo nghễ, buồn rầu, say mê, đau đớn. Bạn sẽ thấy họ qua đôi mắt của chính mình chứ không phải của Hemingway để rồi gấp cuốn sách lại, bạn sẽ thấy Hemingway, đầy hào sảng và tự tin đón nhận mọi sự khác biệt, một sự phóng khoáng rất điển hình mà có lần ông đã tự nhận xét về mình : "Tôi không phải là người Mỹ, tôi là nước Mỹ".

Hemingway chưa bao giờ bỏ quên chất Mỹ của mình, dù đó là ở Paris cũng như Paris không hề biến thành một nơi chốn khác qua cái nhìn của một người Mỹ.  Hemingway đã trải qua tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết ở đó, với tình yêu đằm thắm dành cho người vợ Hadley và ông con trai mũm mĩm Mr Bubby, đã sống những ngày đầy phấn khích với trò đua ngựa, đã ngắm nhìn những kiệt tác nghệ thuật với cái dạ dày trống rỗng, đã viết với tất cả lòng say mê. Hemingway đã thấy Paris, thấy tận tâm khảm nó, đã thấy ánh sáng rực rỡ của nó cũng như bóng tối phía sau ánh hào quang. Paris không thôi khiến người ta đam mê cũng như tuổi thanh xuân mãi mãi không thôi khiến người ta tiếc nhớ. Đó là một thời thật nghèo, mà hạnh phúc.

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Nhạc đời may rủi


Trên đây là lý do để mình đọc cuốn sách này. Một cái bìa ấn tượng và sâu sắc, nhiều màu trắng đủ để thách thức mình kiếm coi viết gì bên trong, sự lửng lơ vô định của những con bài cùng cái tựa đề, cũng khá là gợi cảm. Sau khi đọc "Người trong bóng tối" thì mình có đôi chút cảm tình với Paul Auster, dù đôi khi có cảm giác đọc sách ông như đang coi một bộ phim Mỹ trên HBO, không lý giải được cảm giác này vì mình không rành về phim ảnh, nhưng nói chung là như thế.

Còn đây là cái bìa sách được xuất bản ở Việt Nam. Thật sự thì không xấu, cũng không đẹp nhưng chung quy thì chả ăn nhập gì với cái nội dung bên trong. Mình lại là đứa hơi hình thức (thiệt ra là rất hình thức) nên đôi khi cũng tiếc này tiếc nọ.

Nói chuyện cái vỏ xong thì nói chuyện cái ruột. Như cái bìa (bìa phía trên) nội dung của nó cũng rất ấn tượng với series những bất ngờ nối tiếp, những thứ trông có vẻ vô lý nhưng lại tuyệt đối logic với nhau. Những tình huống và những hình ảnh đối lập, những thái cực giữ bạn ở cái thế lơ lửng ở chính giữa. Và đến cuối cuốn sách thì hiểu ra một điều rằng mọi cuộc đời bình thường ( không kể bị bệnh tâm lý nhé ) luôn bị khống chế giữa những cái cực đối lập như thế. Đó là cách mà người ta không bị chệch khỏi quỹ đạo.

Cụ thể trong cuốn sách này, những cái cực đó là gì? Thứ nhất đó là Nashe và Pozzie. Sự ngông cuồng nổi loạn có phần nông nổi của Pozzie, sự điềm tĩnh tính toán từng bước một của Nashe. Cặp thứ hai là Flower và Stone- Hoa và Đá. Một kẻ béo ú huênh hoang và một tên gầy gò nhút nhát. Tất cả mọi thứ đều nằm ở những cái cực của mình. Nhưng nếu bạn nhìn vào trận đấu căng thẳng đêm hôm ấy, bốn con người họ lập thành hai thế cực kỳ cân bằng.

Bởi vì đó là sự kết hợp hoàn hảo: Nashe và Pozzie, Flower và Stone. Cách thức của sự kết hợp này chính là người này nhận ra mình trong một người khác. Nashe nhận ra khát vọng nổi loạn của mình qua Pozzie, Flower và Stone đều tìm thấy ý nghĩa cuộc đời qua những trò may rủi, nhưng thẳm sâu trong cái huênh hoang của Flower chính là cái bí hiểm đang hiện diện trên khuôn mặt Stone và ngược lại. Bốn con người trong một cuộc chơi, giữ bốn góc chủ chốt và tất yếu những giây phút đầu tiên, khoảng thời gian hiện diện đủ cả 4 người, thế cờ luôn nằm ở vị trí cân bằng.

Lý do Pozzie đã thua Stone và Flower chính là Nashe, vì anh đã rời khỏi cuộc chơi và tự mình lang thang trong căn nhà mênh mông đó. Và vì thế mà Pozzie chao đảo và hoàn toàn không làm chủ tình thế được nữa. Hắn trượt dài trong cái trật tự bị phá vỡ. Ván bài hiện nguyên hình là một cuộc đời với đủ vẻ mặt : sự tự do bất ổn- Pozzie, sự màu mè giả tạo- Flower, sự trật tự và nguyên tắc- Nashe và vẻ bí hiểm bệnh hoạn của Stone. Cuộc chiến ngả ngũ.

Nhưng cuộc chiến trong Nashe vẫn chưa kết thúc. Cuộc đấu tranh giữa tự do hoang dại đào thoát ra khỏi cuộc sống cầm tù sau khi thua bài, với cái lý trí mách bảo anh làm theo nguyên tắc đã thỏa thuận vẫn luôn diễn ra trong tâm trí anh, cộng với hình ảnh của Stone và Flower, dù sau khi chung cuộc đã không còn gặp lại, vẫn trùm những cái bóng đen ám ảnh lên cuộc đời anh. Nashe vẫn mang theo ván bài đó đi cho đến lúc tàn cuộc đời, khi trong một phút không kiềm chế được, sau tay lái của chính chiếc xe mình, sự tự do lồng lên trong con người anh, bứt ra khỏi những giằng co và một lần nữa, thế trận lại bị phá vỡ.

Suốt cả cuốn sách, cảm giác chung là lưng chừng giữa một bên núi đá và bên kia là vực thẳm. Và cứ từng đoạn từng đoạn, Nashe và Pozzie, tưởng chừng đã rơi xuống, lại bám được vào như một điều kỳ diệu, có khi đã vững chãi gần như thắng ở cái đoạn xây bức tường đá. Nhưng cuối cùng, trong một tích tắc, mọi thứ tung hê lên hết cả và Nashe lao ra buông mình xuống vực. Cái giá của tự do.

Đó, té ra mình sống được tử tế như vậy, cùng nên biết ơn những thứ chả ra gì, như cục đá vấp dưới chân- Stone , những phù phiếm màu mè kiểu như Flower và cả những quy tắc khô khan, những lề thói bức bối kìm kẹp, tính toán thực dụng. Tất cả mấy thứ đó, đều là vật cản, đều là chướng ngại nhưng để mình đừng có nhắm mắt lao theo cái bản năng tự do cuồng loạn để đến khi mở mắt ra thì đã chạm vào đáy vực.

Mà tự do là cái thứ khi đã trỗi dậy là ghê gớm lắm.

Giết con chim nhại

Hình như là,ở cái thị trấn Maycomb, người nào cũng ít nhiều trông có vẻ cô đơn.Khi đọc hết cuốn sách này, mình cứ có cảm giác như tác giả muốn chỉ cho mình cách nhận diện nỗi cô đơn dưới những gương mặt khác nhau. Có thể là nó còn có những ý tưởng khác, đại loại kiểu như lên án phân biệt chủng tộc hay đấu tranh gì gì đó, nhưng mình lại không để ý lắm , mình cứ nghĩ hoài về việc con người ta đơn độc ngay cả khi có nhiều đồng minh và ngược lại, hoàn toàn không cô đơn chút nào khi ở một mình trong bóng tối.
Nếu mình là con nhỏ Scout, nếu cuốn sách này mang cái nhìn của con nhỏ mới 8 tuổi, chắc mình cũng chỉ nghĩ tới chừng đó thôi. Có nhiều đoạn trong sách, suy nghĩ của nó làm mình nghi hoặc : chắc nó phải 15 tuổi là ít. Nó đặt câu hỏi như một đứa 8 tuổi nhưng lại đón nhận câu trả lời như một đứa 15. Nó giống một cái gương phản chiếu ông Atticus, qua đó ông hiện ra như một người đi đầu đấu tranh cho quyền bình đẳng. Và cũng qua cái cách nó hỏi, ổng sẽ trả lời những câu rất đạo đức, tốt đẹp và đầy thiện tâm. Nếu trích những câu đó ra, có thể in được vài cuốn "hạt giống tâm hồn" hay chicken soup, đại khái thế. Mình thấy ngán ngẩm khi phải đọc những đoạn mang tính chất "bài học" và Atticus thì quá giống một vị thánh. Tuy nhiên, truyện vẫn hay. Ở chỗ, "vị thánh" này đã thất bại ở phiên tòa.
Cuộc sống vốn là như thế. Dù là ở Mỹ 1930 hay ở Việt Nam 2008, công lý và lẽ công bằng không phải lúc nào cũng được xác lập, nhất là ở tòa án. Mình thì mình nghĩ, phán quyết của tòa án chẳng đại diện cho cái gì hết. Bản thân mỗi người đã có một sự thật gim sẵn trong lòng rồi, cho dù có thừa nhận hay không. Cho nên lúc ông Atticus bị bồi thẩm đoàn quay lưng, người da trắng chửi rủa, người da đen thất vọng. Và ông trông có vẻ cô đơn. Thì thật ra ông hoàn toàn không cô đơn chút nào.
Và ông còn rất thành công nữa kìa. Ông đã kéo sụp được cái vỏ định kiến trùm lên toàn bộ người dân Maycomb, cho dù sau đó, hình thành hàng chục phe phái với hàng chục ý kiến khác nhau, thì họ cũng đã bắt đầu nói lên chính kiến của mình. Cùng với việc được thức tỉnh của những người xung quanh, Jem và Scout đã nhận diện được những gương mặt khác nhau của nỗi cô đơn, học được cách thấu hiểu người khác bằng cách đặt mình vào vị trí của họ.
Đó là lúc ở phiên tòa, khi mà Scout nhận ra rằng Mayella Ewell mới chính là kẻ cô đơn nhất trên thế giới này, chứ không phải Boo Radley, người đàn ông nhốt mình trong bóng tối. Sự khám phá này làm mình thích cuốn sách này ghê gớm. Bởi vì Mayella- người da trắng-người ngồi trên ghế nhân chứng, buộc tội Tom Robnison-người da đen, nhận được sự ủng hộ của gần như toàn thể hạt Maycomb và cuối cùng là cả của bồi thẩm đoàn nữa mới chính là người đáng thương, đau khổ và bất hạnh nhất. Bởi vì thứ mà cô ta buộc tội cũng chính là thứ cô ta khao khát. Cô ta chà đạp sự thật và sự đam mê của bản thân mình. Để rồi mất tất cả .
Atticus có thể bị cô lập, bị uy hiếp hoặc bị tẩy chay, nhưng ông vẫn nắm trong tay thứ mà dân Maycomb không thể chối bỏ : đó là sự thật. Do vậy, tuy ông có vẻ một mình, nhưng lại có quá trời đồng minh tuy mới ở dạng triển vọng.
Boo Radley, người đóng kín cửa giam mình trong ngôi nhà, với những lời đồn đãi thêu dệt ghê rợn, cũng có vẻ đơn độc như một bóng ma. Nhưng tâm hồn anh ta tràn ngập hình ảnh những đứa trẻ hồn nhiên lớn lên, hồn nhiên đi qua những nỗi buồn vui và sợ hãi thường tình. Anh ta có một thế giới được nhìn từ hiên nhà sau khe cửa hẹp. Khi Scout đứng ở vị trí đó, nó tìm thấy thế giới của Boo, nhận ra tâm hồn anh ta không hề lạnh lẽo và u ám mà ấm áp tình yêu thương. Cũng như Jem hiểu tại sao Boo không ra khỏi nhà : chỉ vì ông ta không MUỐN. Boo Radley không cô đơn, anh ta chỉ lựa chọn cách sống cho mình, anh ta biết mình muốn gì và làm điều đó bất chấp những lời đồn thổi của hạt Maycomb.
Cô Maudie, người hàng xóm tốt bụng. Sống một mình trong căn nhà với những luống hoa. Khi thứ tài sản duy nhất của cô bị cháy rụi, cô vẫn sống với một sự lạc quan cố hữu dù là tứ cố vô thân, không còn gì trong tay, dù là phải ở tạm chung nhà với cô Stephanie nhiều chuyện lắm lời.
Dolphus Raymond, người da trắng cưới một người đàn bà da đen và sinh ra một lũ con lai, sống dưới vỏ say xỉn, uống Coca trong những chai rượu. Ông ta kẹt giữa giới tuyến một bên là người da đen và bên kia là cư dân hạt Maycomb. Nhưng ông ta thích thế, ông ta thích cách sống đó. Và bởi vì cả hai cộng đồng đều không thể nào hiểu được tại sao ông lại muốn sống như thế : nửa bên này, nửa bên kia nên ông ta tạo ra một cái vỏ say xỉn để làm lý do cho họ. Họ kết luận ông ra nông nổi này vì ông say, đầu óc mụ mị, mơ hồ. Dolphus sống dưới sự nhầm lẫn ngộ nhận như thế. Không lấy gì làm phiền toái. Có lẽ mình thích nhân vật này nhất. Bản thân ông ta và cái sở thích của ông ta đã hoàn toàn chứng minh sự bình đẳng giữa người da trắng và người da đen mà không cần một thứ ngôn ngữ nào khác. Bởi thế ông ta hài lòng, dù ông ta cũng có vẻ như lạc loài.
Vậy là Atticus không đơn độc. Boo Radley cũng không, Jem và Scout đôi lúc không hòa nhập nổi nhưng vẫn không cô đơn. Dolphus cũng không. Chỉ có Mayella là cô đơn tới tội nghiệp. Cô ta tội nhất câu chuyện này nhưng đó là thứ mà cô ta phải nhận. Một cô nhà báo Việt Nam đã treo blast như vậy :"Nếu anh từ chối sự thật, sự thật sẽ hủy diệt anh từ bên trong". Mayella đã trả giá cho việc chối bỏ sự thật của chính mình. Công lý có thể không có. Nhưng sự thật luôn luôn có. Người dân Maycomb có thể không nhìn ra sự thật vì định kiến cố hữu của mình, nhưng Mayella phải thấy nó, và nó sẽ ám ảnh cô hàng đêm và bất tận.
Mình nghĩ có lẽ không ai cô đơn đâu, trừ khi họ giống Mayella, quay lưng với chính bản thân mình.

Bắt trẻ đồng xanh- The Catcher in the Rye

Ôi, mình khoái cha nội Holden Caulfield này quá. Dù cha nội này mới 17 tuổi, nói năng hàm hồ, văng tục tới từng milimet của mỗi trang giấy, dù hắn gọi bạn gái hắn là "con mẹ Sally", dù hắn thi rớt 4 trên 5 môn và bị đuổi khỏi trường Pencey Prep- lần đuổi học thứ tư. Thì cũng đâu có sao.

Là vì hắn 17 tuổi. Đâu tự dưng mà luật pháp nương tay đối với tuổi vị thành niên. Cái tuổi ấy nó thế. Bất cứ trật tự, quy tắc hay các loại lời khuyên các thứ nào được đưa ra chẳng khác nào úp cho nó một cái lồng sắt, khiến cái bọn lúp xúp trong ấy bó tay bó chân tới phát cuồng .Thế là bọn nó đập phá, gào thét, hút chích, chơi gái, đủ các thử nghiệm. Chỉ để đào bới, rồi chứng minh.Và sau đó gồng gánh những vết thương. Thật ra thì cũng không nghiêm trọng, những cái vết ấy. Vấn đề là, nếu bạn lớn lên, đã từng sạch sẽ và trắng phau như một tờ giấy, thì chỉ cần nhỏ một giọt mực hay một cái gì đó xam xám lên, dù là chút đỉnh góc giấy, bạn sẽ nhìn chằm chằm vào cái vết ấy thôi. Và nghĩ " thôi rồi, hỏng mẹ hết mọi thứ ."

Và đó là cái cách mà cha nội Holden Caulfield lăn xuống dốc. Hắn thi trượt, bị đuổi tới 4 bận.Đánh thằng bạn cùng phòng vì một đứa con gái mà hắn từng cầm tay không biết chán rồi bỏ trường nội trú ra đi với một cái mũi te tua máu.Tới hộp đêm, tới quán rượu, đồng ý trả tiền để có một cô nàng gái làng chơi, tự nhủ rằng: "Đằng nào thì mình cũng đã hỏng". Hắn khao khát bung ra, khao khát thử nghiệm, khao khát chống lại cả mớ nguyên tắc đang chụp lên đầu, bằng trường học, bằng các bài thi, bằng những tình yêu và kỳ vọng của gia đình hắn. Hắn ra đi, tự do với một cõi lòng hoang mang.

Rồi, hắn có sẵn con dốc vậy đó, và cũng không có ý định kìm hãm tốc độ lăn của mình. Vậy mà tới trang cuối cùng, hắn vẫn không trở thành một thằng hư hỏng. Hắn không biết điều đó, hắn nhất định là hắn hỏng rồi. Nhưng thật ra không phải. Hắn vẫn không làm được cho dù hắn đã chạm tay tới rất nhiều cơ hội. Đến cái giới hạn cuối cùng, hắn đã rụt tay lại. Không phải hắn là một thằng nhát gan. Hắn thừa can đảm đó chứ, dù hắn không thể đấm vào mặt của bất cứ thằng nào cà chớn trước mũi.

Nhưng hắn là thằng ý thức rất rõ ràng về các giá trị. Rõ ràng tới mức không thể trộn lẫn chúng với nhau. Hắn ghét học môn sử, nhưng thừa nhận ông thầy của hắn dạy hay. Nhưng không phải vì ổng dạy hay mà hắn không căm ghét cái cách cười a dua của ổng mỗi khi có tiết dự giờ. Rồi dù có như thế, hắn vẫn tới chia tay ổng, nghe ổng nói hàng tràng về cái bài thi bét nhè của hắn đã bị ông đánh rớt. Hắn thương ổng, nhưng vẫn tởm cái cách ổng ngoáy mũi. Chuyện nào ra chuyện đó.Các giá trị thực chất luôn gim trong đầu hắn, trần trụi, đúng nghĩa thế cả tỉ năm nay rồi nên hắn đâm ra dị ứng với các trò màu mè, phô diễn xung quanh. Hắn nôn mửa vào lũ minh tinh bộ tịch, lũ nhạc công đỏm dáng với cái trò khiêm nhường vờ vĩnh, con mẹ ngồi khóc sụt sùi cạnh hắn trong rạp chiếu bóng bỏ mặc thằng con mắc cầu không ai dắt đi. Hắn ghê tởm trường học, ông thầy hiệu trưởng giả dối trịch thượng, món bít tết vào mỗi chiều thứ sáu dai nhách không kém gì mớ đạo đức giả hắn phải nhai.Hắn phỉ nhổ, nhạo báng, dè bĩu. Và hắn quả thật ngây thơ. Hắn không biết rằng, cả thế giới này, cả cuộc đời này, người ta toàn đối đãi với nhau bằng những trò như thế.

Và vì hắn là một thằng vậy đó. Ngây thơ, cả tin, liều lĩnh. Nên hắn chìm ngập trong một nỗi buồn rằng mình là kẻ bỏ đi. Trong khi người đời cùng lắm nhìn hắn như một kẻ nông nổi vấp váp trong bước trưởng thành, chẳng có gì nghiêm trọng, chẳng có gì bận tâm. Cũng như chẳng ai buồn thắc mắc bầy vịt trong hồ ở công viên sẽ đi đâu vào mỗi mùa đông lạnh nước hồ đóng băng. Chỉ có hắn, băn khoăn mỗi khi ngang hồ cũng như băn khoăn về cuộc đời và những ngã rẽ của hắn. Liệu ở đâu có thể chấp chứa một kẻ mang nhiều thương tích và vết nhơ? Ôi chao, hắn còn sạch sẽ và lạnh lặn gấp tỉ những đứa khác, những kẻ màu mè diêm dúa và đạo đức xung quanh. Mà có đứa nào trong số ấy băn khoăn day dứt chút gì đâu. Chỉ có hắn.

Chỉ có hắn mới đứng sững người trước bức tường viết dòng chữ Đ.M ( trong sách viết đầy đủ, hehe) của ngôi trường cấp 1, đau đớn trước viễn cảnh những đứa con nít lớn lên rồi cũng sẽ vấy bẩn như mình. Và hắn, cái đứa có thể tuôn hàng tràng những từ như thế lại đứng hì hụi lau dòng chữ ấy, bất chấp cả sợ hãi rằng có người sẽ hiểu nhầm hắn chính là kẻ viết cái chữ đó.Ngu ghê không. Bởi lẽ ngoảnh tới ngoảnh lui một lát, cái chữ ấy lại xuất hiện, không bằng mực mà khắc ngay vào tường. Tới đây thì hắn bất lực hết cách. Hắn đành thừa nhận là có lẽ cái chữ đó chắc phải nằm cả tỉ nơi trên trái đất, tuôn ra từ miệng hàng tỉ con người. Cái thế giới này, quả thật chẳng thể nào khác được.

Vậy đó Holden Caulfield. Người ta đã học được cách sống chung với những điều xấu xa một cách thanh thản hay vờ như thanh thản từ rất lâu rồi. Còn hắn thì loay hoay mãi. Tại bản chất con người hắn hay tại tuổi 17 của hắn? Tại hắn không hiểu thế giới này hay thế giới này không hiểu lẫn nhau?
Dù sao thì. Holden Caulfield. Mình khoái cha nội này chết đi được.

Cuối cùng. Tại sao lại là " Bắt trẻ đồng xanh"? Đương nhiên không phải chỉ vì trong câu chuyện có một câu hát như thế.Có lẽ là chút mơ mộng nhỏ nhoi của hắn, thằng cha ngây thơ này. Được tự do trong thanh thản.
Mà làm gì có.
14.10.2008. Mình đã đọc một cuốn quá đỉnh