Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Bóng hình của gió


Cuốn sách này đã đến Việt Nam một cách âm thầm, có khuấy động chút xíu bằng cái bìa rồi lặng lẽ tới tay người đọc, không khua chiêng gõ trống, không xôn xao diễn đàn, không ngập tràn mặt báo. Nhưng bạn nên biết điều này, dòng chữ International Bestseller trên cuốn sách là có thật, và hơn nữa, nó là top của best seller chứ không phải loại best seller tầm thường đọc giải trí qua mùa rồi vứt. Carlos Ruiz Zafon là một trong 3 người có số sách bán ra ở đơn vị chục triệu bản (hai người kia là Dan Brown và J.K. Rowling), và sách của ông ấy thực sự đáng đọc, đọc một vài lần rồi cất đi để sau đó đọc thêm vài lần, vài lần nữa.

Bóng hình của gió là một cuốn tiểu thuyết trinh thám tràn đầy chất thơ, chất trữ tình. Tuy được xây dựng trên một khung sườn có tính thị trường, dựa trên một câu chuyện tình ái oan trái và ân oán tình thù, nhưng nó vượt lên được sự tầm thường ấy bằng chính cái con đường nó dẫn dắt người đọc vào : một mê cung đậm chất Gothic, một thế giới hiện thực phảng phất giấc mơ, một Barcelona của những năm 30 - 50 đẹp bằng những vết thương và nỗi ám ảnh thời hậu chiến. Trong mê cung ấy, tâm hồn con người là những dòng sông chảy dưới tầng ngầm với những khúc quanh quạnh quẽ, những bóng tối âm u bủa vây, tự sôi sục trong lòng nó rồi tự tìm cách lắng dịu, tự tìm cách vỗ về. Tình bạn, tình yêu, tình người và lòng hận thù đi bên nhau như hình với bóng, như ngọn lửa sưởi ấm trái tim và thiêu đốt trái tim. Những con người cần tình yêu và bị số phận lưu đày đến với tình yêu, để mãi chìm đắm trong tình yêu như một bi kịch.

Đọng lại trong tôi là tên của thư viện mà Carlos Ruiz Zafon đặt trong cuốn sách này : Nghĩa Trang Những Cuốn Sách Bị Lãng Quên. Lãng quên như một sự chôn vùi bởi lãng quên chính là cái chết, cái chết cô đơn, cái chết thinh lặng không lời phán xét hay an ủi. Như chính cuốn sách mà mình viết : Bóng Hình Của Gió, sự tồn tại của Julian là sự tồn tại vô thừa nhận, hay nói cách khác là thừa nhận một cách âm thầm. Sự âm thầm ấy đẩy Julian vào cõi cô độc âm u nơi tình yêu là ánh sáng duy nhất mà Julian có, nên anh ta sống với tình yêu bằng tất cả tâm hồn, bằng tất cả tuổi trẻ, bằng tất cả say mê, để rồi một lần nữa ngập chìm trong bóng tối khi tình yêu vụt tắt. Số phận của Julian và cuốn sách là những số phận tựa nương, cần tình yêu và cần sự thừa nhận.

Nhưng nhân vật chính của cuốn sách này không phải là Julian, không phải là Daniel, không phải là bất cứ ai trong câu chuyện. Như cái tựa của mình, cuốn sách viết về những cái bóng. Cái bóng của cuộc nội chiến phủ lên toàn bộ Barcelona như một nỗi ám ảnh dai dẳng ngay khi nó đã qua đi, cái bóng của nỗi cô đơn, khát vọng chiếm hữu; cái bóng của kỷ niệm, của những hồi ức đẹp đẽ đã trôi qua, của những nỗi đau không thể chôn vùi; cái bóng của giấc mơ, của đam mê, của khát vọng. Cái bóng đi theo chúng ta suốt cuộc đời, vây phủ chúng ta như những cơn gió lúc lạnh lẽo lúc nồng nàng khi giận giữ lúc dịu êm. Chúng ta đi theo cái bóng của số phận mình như đi theo tiếng gọi từ đáy tim.

Mỗi người trong câu chuyện mang một số phận của riêng mình, số phận lựa chọn họ, và họ cũng đã học cách chấp nhận số phận của mình. Nhưng trong họ vẫn còn cái động lực vượt qua số phận để tìm thấy chút đáng sống của cuộc đời. Cho dù chỉ là trong chốc lát, trong khoảnh khắc, trong vài giây ngắn ngủi khi trái tim được sưởi ấm, khi nắng rạng rỡ trên những nẻo đường Barcelona, thì những vẻ đẹp ấy vẫn ánh lên trong tim họ cái khát khao muốn sống, muốn tồn tại, muốn hiện hữu trong đôi mắt người đối diện. Đó vốn là lẽ giản dị của cuộc sống.

Zafon đã viết một cuốn sách đậm chất Tây Ban Nha, không cần phải miêu tả rõ nét, nhưng người ta vẫn nhận ra được đất nước này bằng thứ tình cảm mãnh liệt, nồng nàng mạnh mẽ, bất chấp và liều lĩnh. Người ta vẫn thấy Barcelona qua những con đường nắng vàng rực rỡ mùa hè lẫn những con đường nhỏ dẫn đến nhưng mê cung bí ẩn. Một thành phố đẹp bằng tất cả tình yêu mà mỗi con người trong ấy có.

Xấu

Điều đầu tiên tôi nghĩ khi đọc xong cuốn sách này là : Natsuo Kirino, bà ấy có xấu không? Có xấu như các nhân vật mà bà ấy viết không? Có tàn nhẫn, có độc ác, có tăm tối và phản trắc thế không? Hơn hết, bà nghĩ gì khi dửng dưng làm một việc là lộn trái con người ta như lộn trái một cái áo rồi nạo vét bằng hết tâm hồn cho tới đáy, ở chỗ chỉ còn từng lớp bùn đen váng vất đóng dày đặc? Làm thế thì sẽ được gì? Sẽ chiếu rọi, sẽ khai mở, sẽ chứng minh cho chúng ta thấy là chúng ta đã xấu như thế nào? Hay chỉ để cho bà ấy được thanh thản?

Xấu. Thế nào là xấu? Cũng như cái đẹp, cái xấu cũng tràn đầy cảm tính. Tối tăm là xấu? ghen ghét đố kỵ là xấu? phóng đãng là xấu? Đâu là tiêu chuẩn cho những cái đẹp và những cái xấu kể trên? Cái tên tiếng Anh có vẻ phù hợp hơn : Grotesque - lố bịch. Sự lố bịch của các nhân vật trong câu chuyện này đó là chạy theo ảo tưởng và ham muốn mà quên đi những thứ vừa vặn với bản thân mình. Yuriko chính là hiện thân của cái ảo tưởng ấy. Sắc đẹp của cô ấy được tôn thờ trong những tâm hồn tràn ngập ganh ghét đố kỵ, những tâm hồn đầy gai nhọn tua tủa để phòng bị trước một xã hội đuổi theo sư phù phiếm tới lạc lối, hoang mang. Nhan sắc của Yuriko như một thứ ánh sáng mạnh mẽ, gay gắt vụt xuất hiện trên những nẻo đường, càng nhấn mạnh thêm sự tối tăm ở những ngõ ngách khác của con đường ấy. Cái đẹp đâu chỉ cứu rỗi, cái đẹp còn là động cơ cho cái ác trỗi lên.

Giống như kẻ bị lóa mắt trước ánh sáng, khi bước vào một vùng tối hơn, sẽ không còn nhìn thấy gì nữa ngoài những tối tăm dày đặc, chị gái Yuriko - cô gái ấy cho đến phút cuối cùng vẫn không xưng tên, và không ai nhớ được tên cô - cũng nhìn cuộc đời bằng ánh mắt tối tăm hằn học như thế. Cô ấy sống bằng cái khoái lạc được chứng kiến những nỗi thống khổ mà bạn bè mình gánh chịu, bằng sự đố kỵ hằn học, bằng sự căm ghét và thù hận tất cả mọi người. Dưới vỏ bọc bình lặng và bình dị, cô ấy âm thầm thù ghét cuộc đời, âm thầm phán xét, khinh miệt rồi nhấm nháp hương vị của sự trả thù. Một nhân vật mà toàn bộ hình hài được xây dựng nên từ hình bóng của kẻ khác, bằng toàn bộ sự khác biệt của một xã hội mà cô ấy từ chối đứng chung. Không có gì rõ ràng ngoài một cõi lòng tăm tối đầy bất an, không có gì ngoài một ngoại hình mờ nhạt mang vác một tấm áo giáp đan dệt từ đố kỵ và căm thù. Không có gì cả. Cô ấy là một cái hồ nước đen để bạn soi thấy đáy của mình, và chẳng cho bạn thấy gì hơn ngoài cái đáy tăm tối ấy để suốt đời, đối xử với chính bản thân mình một cách tàn tệ.

Cuộc đời của Kazue có thể sẽ khá hơn nếu cô ấy không gặp chị gái Yuriko, nếu con quái vật trong lòng cô ấy không trỗi dậy, nếu cô ấy biết rằng cô ấy không chỉ có một con quái vật, cô ấy còn những thứ tốt đẹp hơn để yêu. Nhưng số phận của cô ấy là thế, con quái vật ấy đã thức giấc rồi, con quái vật tham lam không ngừng nuốt trọn những tiêu chuẩn, những nguyên tắc và định kiến của cuộc đời, để tiêu hóa thành một thứ còn xấu xa hơn những gì nó thấy. Đó là Kazue, suốt đời chạy theo đám đông, sống hết mình vì giấc mơ của kẻ khác. Cô ấy không biết được điều cô ấy mong muốn nhất trong cuộc đời đó là được người khác đối xử tốt với mình, cái hạnh phúc nhỏ nhoi một lần trước khi chết cô ấy đã thốt lên, vô tình nhưng tận từ đáy lòng. Cái chết của Kazue xem như một sự đánh đổi, bằng cái chết của mình, cô đã khiến dư luận xôn xao, chú ý. Nhưng liệu cô có biết rằng rồi cuối cùng người ta cũng qua nhanh cơn tò mò và rồi cái sinh mạng của cô cũng sẽ nhanh chóng rơi vào lãng quên? Hy vọng là cô ấy không biết.

Nhưng ta là ai mà phán xét họ? Ai cũng có lý do cho sự độc ác của mình. Yuriko, cô ấy phản kháng với sự thao túng của xã hội, vì nhan sắc của cô khiến cả xã hội muốn chiếm hữu nên cô ấy vùng vẫy thoát ra. Yuriko đào thoát đến với tự do bằng tất cả bản năng và để bản năng chi phối toàn bộ cuộc đời mình. Cái bản năng đam mê tình dục cuốn cô ấy trong cơn lốc của nó, để từ một nhan sắc lẫy lừng trở thành gái điếm hạng bét lúc cuối đời, đó là cái giá mà Yuriko chấp nhận đánh đổi ngay từ khi còn trẻ. Kazue cũng tìm đến với tự do, nhưng cô ấy không biết lắng nghe bản thân mình, cô ấy mải mê vì cái tự do mà Yuriko có và tin rằng đó mới là tự do đích thực. Kazue nghiệt ngã với chính mình để đuổi theo Yuriko, và cuối cùng thì cũng gặp. Chỉ có điều khi ấy, hào quang đã tắt lịm.

Natsuo kể một câu chuyện với thái độ thản nhiên, dưới giọng của nhân vật xưng tôi - chị gái của Yuriko, cứ như mình là người vô tội. Và chính ra, cô ấy cũng tin rằng mình có quyền được như thế, quyền phán xét, quyền căm ghét, quyền thù hận. Cô ấy có quyền sống bằng tất cả sự khinh miệt dành cho cuộc đời. Nhưng rồi cuộc đời nào đâu phải như thế. Nhan sắc của Yuriko đã tàn phai, Kazue không còn sức lực để đuổi theo nỗi ám ảnh nữa. Những con quái vật rồi cũng đến ngày tàn. Vậy cô ấy còn gì? Chẳng còn gì nữa cả, chẳng còn gì để biện minh cho sự ganh ghét, cay độc. Người phụ nữ ấy không thể tự lừa dối được bản thân mình. Đó mới chính là lúc, con quái vật của riêng cô trỗi dậy.

Câu chuyện kết thúc với một sự khởi đầu, của những điều tốt đẹp lẫn những điều tối tăm. Cái gì sẽ thắng, hay sẽ không bao giờ có sự chiến thắng, chỉ có sự thỏa hiệp để có thể đi cạnh nhau, bởi bản chất cuộc đời sẽ luôn dung nạp cả hai, bởi vì có những số mệnh sinh ra để làm bóng hình của một số mệnh khác? Natsuo, như thái độ từ ban đầu, thản nhiên chấm hết câu chuyện với vô vàn dư âm và câu hỏi, nhưng thực ra mỗi người đã luôn có kết luận của mình rồi.

Gió qua rặng liễu


Nếu một hôm nào đó bạn tình cờ cảm nhận được một ngọn gió đượm mùi đồng quê, hoang sơ thổi qua thành phố, rất có thể đó là ngọn gió đã đến từ những rặng liễu, những nhánh cây rối bời đan vào nhau bao phủ một vùng đất nên thơ, nơi những cư dân sống trong đó ôm ấp những mối giao hảo thân tình tha thiết với nhau cũng như với tất cả những gì mà cuộc đời ban tặng.

Gió qua rặng liễu là một tác phẩm kinh điển của văn học, không chỉ riêng dành cho thiếu nhi. Bỏ qua tất cả những lời khen tặng mỹ miều, cuốn sách này bền bỉ lay động người đọc hơn 100 năm nay, chính bằng sự giản dị của nó. Sự giản dị bắt đầu bằng với những nhân vật rất đỗi bình thường, có phần thô kệch và chẳng lấy gì làm sáng sủa long lanh : là Chuột Chũi, Chuột Nước, Cóc, Lửng, Rái Cá, những con vật ngụp lặn dưới ao tù bùn đất ít được đoái hoài hoặc nếu có thì cũng đi kèm với một sự hắt hủi nào đấy. Nhưng khi bạn đọc cuốn sách này, bạn sẽ thấy khác. Cũng là chúng nó thôi, cũng là vùng đất ấy, đầm lầy, giòng sông và khu rừng ấy, nhưng mọi thứ sẽ hiện lên với tất cả vẻ nên thơ lẫn sự hân hoan dào dạt không che giấu nổi. Thật không có gì đẹp hơn một khuôn mặt bừng sáng vẻ yêu đời và háo hức khám phá cuộc sống, cho dù kẻ đó có là ai.

Trong cuốn sách này bạn sẽ tìm thấy những chuyến phiêu lưu, những núi đồi ghềnh thác, những thành thị, những đồng bằng, những cỗ xe ngựa kéo, xe hơi và cả thuyền độc mộc. Bạn sẽ hồi hộp và phấn khích theo mỗi chuyến đi. Nhưng vượt trên tất cả cảm hứng xê dịch ấy, điều lay động nhất trong cuốn sách, điều ngọt ngào ấm áp nhất chính là nỗi nhớ nhà, nhớ cái tổ ấm thân quen, cái mùi cũ kỹ êm ái và cảm giác ngập sâu trong chiếc ghế bành bên lò sưởi ánh lửa bập bùng. Nỗi nhớ quay quắt dâng tràn trong lòng Chuột Chũi khi trên đường phiêu lưu chú ngửi thấy mùi của tổ ấm, cái hang đơn sơ mà chú đã quét dọn lau chùi một cách điên tiết vào mùa xuân, để khi chịu hết nổi chú đã bỏ nó đi đến với Chuột Nước bên dòng sông đầy quyến rũ. Những miền đất mới và những cuộc phiêu lưu luôn phô bày không che giấu vẻ mời gọi hấp dẫn của nó, cái cám dỗ của hiểm nguy và vinh quang mà chúng ta, hay những con vật trong câu chuyện này đều không thể nào khước từ nổi. Nhưng sâu thẳm trong tim vẫn là căn nhà nơi ta lớn lên, trú ẩn suốt những mùa đông dài hay những ngày xuân dập dìu, dù đó là cái hang đơn sơ của Chuột Chũi hay lâu đài tráng lệ của thằng Cóc, dù chúng nó có phấn khích biết bao trước viễn cảnh hoành tráng của một cuộc phiêu lưu, thì rốt cuộc nơi chúng nó muốn đến nhất, chặng cuối của cuộc hành trình vẫn luôn là như thế : trở về nhà.

Có thể bạn lúc đầu sẽ gặp một chút khó khăn với cách viết văn của tác giả, câu văn cứ dài miên man và dịch giả cũng vì cố gắng bám theo cái tinh thần ấy mà dịch ra những đoạn dài gần nửa trang không có dấu chấm. Nhưng tui thích. Cách viết câu phức và lối diễn đạt dài dòng đó cho tui một cảm giác về sự dạt dào không dứt của cảm xúc, cảm giác phấn khích và choáng ngợp trước mọi vẻ đẹp và lòng yêu đời phơi phới. Mỗi câu văn tựa như những đợt sóng, những cơn gió, ào ạt xô tới lớp lớp đang tràn không đủ chỗ cho một dấu chấm nghỉ ngơi. Đó là tuổi trẻ, là sức sống và tinh thần tự do mà không có gì có thể biểu đạt tốt hơn. Hãy đọc nó với tất cả tâm hồn mình, bạn sẽ ngạc nhiên trước vẻ rạng rỡ và tươi mới của cuộc đời. Từ xó xinh tối tăm đến dòng sông dào dạt, từ lâu đài tráng lệ đến khu rừng rậm mịt mù, ở đâu cái ánh lửa reo vui trong tim cũng không ngừng bập bùng tí tách, sưởi ấm và an ủi tâm hồn. Bốn mùa trôi qua trên vùng đất ấy, như những cơn gió mang nhiều dư vị thổi qua rặng liễu, lúc mạnh mẽ, lúc dịu dàng nhưng chưa bao giờ thôi tràn trề sức sống. 

Phải thế nào thì mới thành kinh điển được chứ. Cuộc đời giản dị mà lộng lẫy hơn ta tưởng rất nhiều <3

Alain nói về hạnh phúc

Đây là một cuốn sách xứng đáng được đặt trang trọng trên kệ sách, để vào những ngày khi tâm trạng tồi tệ, khi cảm hứng dành cho cuộc sống tụt xuống dưới tận gót giày, thì bạn hãy lôi nó ra, mở một bài bất kỳ - ngắn thôi, mỗi bài có vài trang, rồi đọc. Và bạn sẽ nhanh chóng tê tái một cú- cái cảm giác bị noi trúng ngay tim đen, oà lên một cái thiệt ngỡ ngàng, Alain là ông nội nào mà hiểu ta quá vậy? Nhưng ối trời, ông ấy nào biết bạn là đứa nào, còn những chuyện này, ông ấy đã nói từ gần 100 năm về trước.

Ông ấy là ai thì bạn đọc sách đi rồi biết, giới thiệu đầy đủ kỹ càng. Nhưng ông ấy là ai thì có gì là quan trọng, cái chính là những gì ông ấy viết kìa. Gần 100 năm mà ông ấy nói đúng hết trơn những gì đang diễn ra trong cái tâm trạng bết bát của chúng ta, thì có vẻ nhân loại cũng chưa tiến bộ được bao nhiêu đâu nhỉ. Chúng ta cứ mãi mãi đày đọa chính mình, nên mãi mãi phải uống thuốc của ông ấy kê toa thôi. May phước là cũng không phải sơn hào hải vị sâm nhung gì, toàn những thứ có sẵn trong tủ lạnh của mỗi người. Có sẵn hết ấy mà không biết chế biến thôi.

Đừng nghe tui nói vậy mà tưởng đây là sách ẩm thực dạy mấy món bổ thận tráng dương nhe. Hạnh phúc đâu có đơn giản thế, và hạnh phúc đâu thể công thức hoá được như thế. Cũng vì vậy mà tui từng ái ngại không biết có nên đọc cuốn này không, vì vẫn nghĩ rằng, hạnh phúc của mỗi người không giống nhau, mà đã không giống nhau rồi thì có gì chung để mà Alain phải nói? Ấy vậy mà có đấy.

Không có một chuẩn hạnh phúc nào cho tất cả chúng ta, nhưng có một ngưỡng hạnh phúc chung, có thể đúng với ra đại đa số, đó là thứ hạnh phúc khi thoát khỏi được nỗi đau khổ. Và theo đó, cuốn sách này không chỉ nói về hạnh phúc, nó còn nói về đau khổ. Và Alain không đem lại cho bạn niềm hạnh phúc của ổng, ông chỉ cho bạn cách thoát khỏi nỗi buồn và nuôi nấng niềm vui- của chính bạn. Nói nôm na một cách dễ hiểu thì ông ấy không đem đồ ăn cho bạn, ông ấy chỉ cho bạn cách xào nấu những món có trong vườn của mình. Hạnh phúc và đau khổ là hai mầm cây có sẵn trong tâm hồn mỗi người. Đau khổ dễ sống nên phát triển nhanh hơn, hạnh phúc khó khăn hơn nên phải tưới tắm chăm bón hết mình. Nói vậy để biết, cái vườn ấy ra sao là do bạn.

Đọc xong cuốn này, dù cái vườn của tui không ngay lập tức mà tưng bừng hoa nở hẳn lên, nhưng ít nhất tui cũng đã làm một việc đầu tiên là cầm cái xẻng, nhổ một ít cỏ, tưới một ít hoa. Không có gì là muộn vì hạnh phúc nó không nằm ở một vị trí cố định để bạn vạch kế hoạch lao tới, nó nằm trên hành trình ta đi, trong niềm vui và thỏa mãn của sự lao động. Hãy bắt đầu đi, niềm tin của sự bắt đầu bản thân nó cũng là một hạt mầm hạnh phúc rồi đó.

"Tôi chúc bạn nhiều niềm vui. Đó mới đúng là thứ cần trao đi và nhận lại. Đó mới đúng là phép lịch sự đích thực khiến mọi người đều phong lưu, trước tiên là cho chính người đi tặng. Đó mới đúng là kho báu mà càng được trao đổi bao nhiêu càng được nhân lên bấy nhiêu. Bạn có thể rải nó khắp phố phường, trên toa xe điện, hay trong các quầy báo : nó sẽ không vì thế mà suy suyễn đến một nguyên tử. Bạn vứt nó ở đâu, nó sẽ mọc lên và trổ hoa ở đấy."

Bay trên tổ chim cúc cu

Dạo gần đây, khi xem thời sự hay đọc báo, tôi hay nghĩ về cuốn sách này, câu chuyện này. Sau gần nửa thế kỷ có mặt trên đời, nó vẫn nói đúng y chóc về chúng ta, những con bệnh kinh niên, những con bệnh cấp tính, những con bệnh vì yếu đuối bạc nhược nên không dám lựa chọn tự do để dần dần lãng quên tự do, để sống một cuộc đời mỏi mòn héo hắt.

Mc Murphy ở đâu, giờ đây thật khó để tìm được một con người như thế giữa một rừng người toàn là bệnh kinh niên với cấp tính, thật khó để nghe được giọng cười hào sảng khinh khoái  giọng cười bạt mạng thơ ngây. Giờ đây chúng ta chỉ còn một lũ người với những viên thuốc tê liệt não, những kẻ để sống an toàn phải giả câm giả điếc như Bromden, những mụ y tá như Ratched cười ngọt ngào một cách vô cảm và tàn nhẫn, những tay hộ lý căm thù đồng loại của mình. Chúng ta chỉ còn những khát vọng tự do đã bị lãng quên.

Không có cuốn sách nào tưng bừng hơn, và đau buồn hơn cuốn sách này. Nó nhắc ta nhớ về tự do và cũng nhắc ta về cái giá phải trả của tự do. Không có cái chết nào ám ảnh hơn cái chết của Mc Murphy, chết như một kẻ bị hút cạn linh hồn, hút cạn lòng nhiệt huyết và niềm vui sống, chết như bị hoá đá. Một cái chết đánh động và thức tỉnh tới bàng hoàng, rã rời, tới cay đắng, tới nghiệt ngã. Mọi thứ diễn ra đúng quy luật của nó, thản nhiên lạnh lẽo như gương mặt mụ Ratched, kẻ cai trị người khác bằng gót chân Achilles của chính họ.

Những đứa con của nửa đêm

Nó đây, chính nó. Cuốn sách đã tước đoạt của tui hai tháng ròng rã, đã ném đời tui vô một mê cung hỗn độn của những câu chuyện rối tinh rối mù về một đất nước còn rối loạn kinh hơn cả thế, với một kẻ dẫn đường rất khủng khiếp, một kẻ mà người ta gọi là phù thủy, một kẻ biết thả bùa, biết trù quến và luôn cố tình đi lạc. Kẻ đó là Salman Rushdie còn cái xứ sở kinh dị ấy, ta gọi nó là Ấn Độ :))

Một cuốn sách cực kỳ khó đọc nhưng cực kỳ lôi cuốn. Nó lôi cuốn bạn trong lúc bạn thậm chí chả hiểu nó đang kể cái quái gì, như một kẻ bị ăn phải bùa mê thuốc lú. Nó dẫn bạn đi đến vấn đề một cách vô cùng quanh co, hỗn loạn, chuyện nọ xọ chuyện kia, hết sức mất trật tự. Salman Rushdie cứ thế thao thao bất tuyệt theo đúng nguyên tắc cái gì nghĩ tới trong đầu trước thì sẽ nhảy bổ ra giấy trước, và lỡ kẻ nào nói leo vào câu chuyện một chút thôi thì ông ta sẽ không ngần ngại mà đu theo cái kẻ nói leo ấy, đi cùng trời cuối đất. Một kẻ kể chuyện bất chấp trật tự, lớp lang, thế là một câu chuyện phi tuyến tính và một thế giới kỳ ảo huyền hoặc đã mở ra, với những hành trình bất tận.

Chỉ độ 10 trang thôi, và rồi bạn sẽ phát điên với cái lối dẫn đường tùy tiện của ông ta, tui biết. Cái kiểu phóng to thu nhỏ sự kiện vô cùng ngẫu hứng, lúc zoom in, khi zoom out, vừa mới soi tới ngón tay cái xong thì đã liên kết được ngay tới hàng lô lốc biến động chính trị trên toàn thế giới trong cùng thời điểm. Bạn sẽ điều tiết óc tưởng tượng và liên tưởng mệt nghỉ, sẽ vật vã và mất khả năng kiểm soát với cái kiểu điên khùng ấy. Với Salman Rushdie, không có chuyện đọc tới đâu hiểu tới đấy, chỉ có đọc hết toàn bộ thì mới có thể hiểu (và với tui, đọc hết rồi đọc lại lần 2 thì mới hiểu). Nhưng trong khi cả thế giới phát điên lên vì cái kiểu kể chuyện ấy, thì dân Ấn Độ xì một câu : có gì đâu mà ầm ĩ, chuyện ông ta kể tui cũng kể được, huyền ảo cóc khô gì :)). Thì đúng rồi, không ai hiểu chỉ một người rất hiểu, vì đó chính là em, vì em là Ấn Độ, và vì cuốn sách này, từ đầu tới cuối đã được Salman Rushdie tưới tắm cho một tinh thần Ấn Độ thật là bất diệt, và còn hơn cả thế.

Bởi vì Salman Rushdie rất tham vọng, cái tham vọng dám đem cuộc đời của một nhân vật đơn lẻ ra để phóng chiếu cho cả một dân tộc, dám truy ngọn nguồn của những biến động đau thương của dân tộc ấy về một khởi điểm là nỗi thống khổ cá nhân. Ông ấy đã tạo ra Saleem Sinai, đứa trẻ song sinh của đất nước Ấn Độ, đứa bé mang trong mình năng lực siêu nhiên, như chính cái đất nước mang trong lòng nó vô vàn câu chuyện thần thoại, tới mức thần thoại chính là một phần thực tế của cuộc sống. Cũng như số phận của dân tộc mà nó phản chiếu, Salem long đong lận đận và trôi dạt ngay từ khi nó mới sinh ra. Một đứa con lai bị tráo bọc, một kẻ bần cùng rơi vào tầng lớp thượng lưu để luôn phải sợ hãi cái bí mật của chính mình. Saleem, hay Ấn Độ, hay những dòng máu đã bị pha lẫn dòng máu của thực dân Anh, quay về bơ vơ trong cái huyết thống tưởng là của mình nhưng rồi xa lạ, hoang mang chới với với sự tự do và nền độc lập non trẻ chưa kịp thích nghi. Để rồi cả cậu và Ấn Độ, số phận của cả hai rơi vào vòng xoáy của những xung đột buổi giao thời, giữa xưa cũ và mới mẻ, giữa nền văn hóa phức tạp cũ kỹ và “sự khai sáng” của nước quốc mẫu để lại. Một thời đại hỗn loạn, một xã hội rối ren và con người cứ quanh co bế tắc trong những mâu thuẫn nội tại, không sao thoát ra được. Để rồi mặc lòng cho thời đại cuốn đi, mặc lòng cho sự phân ly, chia cắt rồi tan rã.

Ấn Độ mang gương mặt của đứa trẻ ngay giờ phút giành độc lập, gương mặt vĩnh viễn trẻ trung nhưng không sao trẻ hóa được tâm hồn già cỗi hỗn mang của nó. Tâm hồn trĩu nặng ưu phiền triền miên biết bao thế kỷ, tâm hồn chứa đựng cả nghìn xung đột từ tôn giáo đến sắc tộc đến giai cấp, tâm hồn loay hoay muôn thuở không tìm được một câu trả lời chung cho chừng ấy con người. Bởi thế một gương mặt Saleem Sinai là không đủ. Từ cái buổi giao thời ấy, vào cái đêm định mệnh ấy, không chí có số phận Salem bị buộc chặt vào số phận Ấn Độ, mà cái bóng của nó, cái bản thể đối lập của nó, đứa trẻ bị tráo bọc với nó cũng đã bị buộc chung vào. Như một hiện thân của sự hắc ám tồn tại trong nội thể, sự đen tối trong tâm hồn, Shiva, đứa con thực sự của dòng họ, đứa bé không may bị đẩy xuống sống cuộc đời tăm tối bần hàn để rồi lớn lên với cơ cực và bạo lực, đứa trẻ ấy cũng chính là Ấn Độ, một Ấn Độ mông muội, cực đoan nhưng thuần huyết, một Ấn Độ của cái ác và sự hủy hoại. Cái bóng muôn đời theo chân một đất nước vừa được hồi sinh.

Những đứa con của nửa đêm là một cuốn sách khó đọc, không chỉ vì lối kể chuyện rối rắm một cách cố tình của nó, không chỉ vì một khối lượng vấn đề đồ sộ được đặt ra trong cuốn sách, không chỉ vì những đầu dây mối nhợ chính trị giăng ngang kẻ dọc. Nó còn khó đọc bởi nó chứa trong mình nó cả một nền văn hóa vĩ đại, với những tầng sâu thăm thẳm lẫn bề rộng mênh mông, nó khó đọc bởi vì Salman Rushdie đã vận dụng hàng loạt điển tích điển cố, các câu chuyện thần thoại, sử thi và thậm chí là cả nghệ thuật châu Âu cũng không tha, cùng lối kể ẩn dụ vào câu chuyện vốn đã rất giống đống bùi nhùi của mình. Ông ấy cứ trộn lẫn tất cả chúng vào nhau để cho ra một món ăn sặc mùi cà ri không chạy vào đâu được.Ấn Độ ở đây rồi. Salman Rushdie đã làm công việc ông ấy cần phải làm để mô tả Ấn Độ, đó là bẻ gãy tất thảy các loại cấu trúc, bố cục, trật tự chỉ để lại một hổ lốn các câu chuyện mà cho dù bạn làm bất cứ cách gì thì chúng nó vẫn cứ dính chùm với nhau bền bỉ keo sơn không sao gỡ ra được.

Thỉnh thoảng tui cũng phải tự tha thứ cho chính mình nếu vấp phải một cái hố thuộc về văn hóa Ấn Độ tối om, tặc lưỡi bỏ qua vì không thể đào sâu hơn bởi vì đời người thì có hạn grin emoticon. Những gì cuốn sách này đem lại, giống hệt đất nước Ấn Độ nó phản chiếu, tầng tầng lớp lớp, một hai lần ghé qua không thấy hết được, cả đời ở đó có khi cũng không thấy hết được. Có thể vì lẽ đó mà người ta đã dúi vào tay ông ấy một cái giải Man Booker, rồi thêm chục năm sau, người ta thấy vẫn chưa ép phê, dúi thêm cho ông cái giải nữa có tên là Booker of Man Booker. Sau chừng ấy năm, người ta vẫn chưa thôi bị choáng ngợp :))

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Moon Palace

Moon Palace - Cô đơn như một tinh cầu.

Không khó để đọc sách của Paul Auster. Ông ấy có lối viết, lối kể chuyện rất Cine, nghĩa là mạch truyện, cấu tứ, hình ảnh đều mang hơi hướm của một bộ phim với các nhân vật được xây dựng rõ ràng, có điểm nhấn, có đặc trưng và câu chuyện được kể rành mạch liên tục không hề đứt quãng. Nhưng kể cũng hơi mệt cho người đọc khi phải cầm trên tay cuốn sách của Auster, phải đọc cho tới tận trang cuối cùng mới buông xuống được, không được quyền nghỉ xả hơi giữa hiệp, vì nếu đọc giữa chừng, chắc hẳn sẽ phải nhấp nhổm đứng ngồi không yên vì số phận các nhân vật trong đấy, vì vô vàn câu hỏi to đùng đã giăng ra khắp nơi mà chưa kịp giải đáp. Để yên ổn sống tiếp, tốt nhất là cứ phải đọc cho xong :))

Moon Palace là câu chuyện về những số phận cô đơn, bị đẩy vào cảnh cô đơn hoặc lựa chon cô đơn- thôi thì đằng nào cũng cô đơn. Cuộc đời họ dính với nhau, bằng sự tình cờ, nhưng cũng bằng định mệnh. Cô đơn có vẻ như là một căn bệnh di truyền, từ đời ông, đời cha cho tới đời cháu. Mỗi người mắc bệnh theo một cách riêng nhưng mầm mống của nó khởi đầu từ cái khát vọng theo đuổi tự do, từ ngày mà ông già Effing bỏ hết tất cả để đến với thế giới hoang dã, nơi ông tưởng có thể trãi hết tâm hồn mình vào sự rộng lớn khôn cùng của nó. Nhưng những gì ông đem về chỉ là một cuộc đụng độ giữa tâm hồn nghệ sĩ và hiện thực xấu xí tan hoang, và cuộc đào thoát đến với tự do của ông còn để lại trong cuộc đời người vợ và đứa con trai ông một khoảng trống mênh mông không ai lấp nổi. Kể từ đó, nỗi cô đơn theo chân con trai ông đi song hành với số phận nó, rồi truyền xuống đứa con trai của nó - tức cháu nội của ông. Nỗi cô đơn lang thang từ thế hệ này sang thế hệ khác, tỏa cái ánh sáng mênh mang nhợt nhạt mà ám ảnh của nó lên cuộc đời từng người, buồn bã, uể oải tới phát điên, tới bệnh hoạn.

Mặt trăng là hình ảnh được Paul Auster sử dung như một biểu tương của sự cô đơn. Mặt trăng lang thang trên bầu trời, tự do trong hành trình và đơn độc trong hành trình. Ánh sáng của nó lúc rực rỡ lúc nhạt nhòa, giống như nỗi cô đơn của 3 người đàn ông trong câu chuyện, lúc mạnh mẽ, lúc âm ĩ, khi phát điên tới bệnh hoạn, lúc buông xuôi như chìm vào vũng lầy không muốn thoát ra. Nhưng mặt trăng chưa bao giờ biến mất trên bầu trời, cũng như nỗi cô đơn chưa từng rời bỏ ta đi. Với bất cứ bầu không khí nào, mối quan hệ nào, tình yêu nào, hận thù nào, mặt trăng vẫn ở đó, tỏa ánh sáng của nó lên cuộc đời và số phận của những con người, nhắc nhớ về một khoảng trống mênh mông quạnh quẽ trong trái tim, nơi nỗi khát vọng tự do từng thống trị .

Moon Palace – làm tui nhớ đến Hoàng tử bé. Cậu hoàng con cô đơn lang thang trong vũ trụ với trái tim ngây thơ và thiết tha. Moon palace – một tinh cầu rực rỡ cô đơn, nhạt nhòa cô đơn, chưa bao giờ thôi cô đơn. Paul Auster bao giờ cũng bắt người ta trả giá cho lựa chọn của mình. Và cô đơn chính là cái giá của tự do, trả hoài không bao giờ hết  :D

P/s : bạn đừng bao giờ cố chỉ ra sự phi lý hay đi tìm logic hay hiện thực gì đó trong cuốn sách này. Chuyện đó vô nghĩa :D

Dòng sông kỳ bí

Cái tên Dennis Lehane xuất hiện ở Việt Nam lần đầu tiên, đã gây một cú ép phê nho nhỏ trong lòng người đọc sách lẫn xem phim, bằng cuốn sách lẫn bộ phim đã được chuyển thể chính từ cuốn sách ấy, cùng cái tên ấy : Shutter Island - Đảo kinh hoàng. Lần thứ hai Dennis quay lại, bằng cuốn tiểu thuyết cũng được chuyển thể thành phim khác : Mystic River

Cũng như Nguyễn Ngọc Tư , viết Sông rồi mới viết Đảo, Dennis cũng viết Mystic River trước Shutter Island :)) Mystic River không có cái kết gây shock cũng như những tình huống kinh dị đến ngạt thở, không có cái vẻ âm u bí hiểm cũng như những nỗi bàng hoàng; cuốn sách này đời thường hơn, tĩnh lặng hơn, như một dòng sông cứ thờ ơ trôi theo ngày tháng, giấu tận đáy lòng mình những tăm tối uất ức cứ sôi sục, âm ỉ chực trào. Rồi một ngày kia nó trào lên thật.

Câu chuyện được kể một cách trật tự, lớp lang theo dòng thời gian, tưởng như chuyện nào chuyện ấy đã sáng rõ dưới ánh mặt trời, ấy thế mà người nào người nấy cứ phải gọi là tràn trề bí mật. Bí mật được đào sâu, chôn chặt tận đáy lòng, dưới vẻ mặt thờ ơ, trầm tĩnh nhưng bí mật hoàn toàn không thể nằm yên bởi nó còn quá nhiều điều không cam tâm, không giải tỏa, không tiêu hóa nổi. Thế nên bí mật cứ như một con quái vật âm thầm lớn lên trong tâm hồn những đứa trẻ, cho đến khi chúng trưởng thành thì con quái vật ấy cũng lớn với đầy móng vuốt và khát máu.

Dennis không kể một câu chuyện trinh thám, dù trông có vẻ như vậy. Cũng không kể một câu chuyện kinh di, bởi vì nó không phải thứ chuyện khủng khiếp mà người ta đem ra hù nhau. Nó là một câu chuyện mà thỉnh thoảng chúng ta phải đối mặt trong đời, dù muốn hay không : là chết chóc, mất mát, chia lìa, tổn thương, mặc cảm, là đau đớn, là nhục nhã ề chề. Tất cả những cảm giác ấy, chính là cái bóng ma kinh khủng nhất mà chúng ta phải gặp chứ không phải những ảo ảnh từ nghĩa địa hay những con ma cà rồng bước ra từ truyện tranh. Và cứ thế, Dennis kể một cách chậm rãi câu chuyện cuộc đời của ba người bạn, mà số phận đã chia cắt họ bằng nỗi ám ảnh từ tuổi thơ, dù vẫn sống đâu đó quanh quẩn bên nhau nhưng mỗi người đã tự xây cho mình một bức tường ngăn cách với người kia bằng thứ mặc cảm tội lỗi và những uất ức căm hận không sao giải tỏa nổi. Càng ngày bức tường càng cao, tâm hồn càng tăm tối và dòng sông- cuộc đời họ vì thế càng lúc càng sâu, càng nhiều sóng.

Hiếm khi đọc một cuốn truyện trinh thám gây ra cảm giác yên tĩnh như thế. Chẳng có gì giật gân hết, chẳng có gì đột ngột hoặc thất kinh hồn vía cả. Chỉ có một cảm giác u sầu nặng nề càng đọc càng đi dần dần vào trong người, khiến tâm hồn trĩu xuồng, tan nát vì những câu chuyện mà ta biết chắc là có thật, chẳng có gì là hư cấu; nó thật và trần trụi như cuộc sống, và buồn bã bế tắc như là cuộc sống. Cái ám ảnh của câu chuyện nằm ở chỗ đó, cái chỗ rất thật mà khôn cùng ấy, cái chỗ mà tâm hồn con người càng soi rọi càng thấy mịt mờ , càng lặn sâu càng không tìm thấy đáy ấy. Và con người càng lúc càng lún sâu vào trong nỗi ám ảnh khôn nguôi ấy, chưa bao giờ thoát được ra khỏi nó.

Cho nên, không thể  gọi đây là một cuốn tiểu thuyết trinh thám-kinh dị thông thường được nữa.

Sông

Đọc Sông của Nguyễn Ngọc Tư.

Sông Di đúng như tên gọi của nó, dân dã, bình thường mà nghĩ kỹ hơn một chút về cái tên này thì đã bắt đầu thấy cuồn cuộn sóng. Và khi đọc xong cuốn sách này, thì tròng trành, chênh chao chính là thứ cảm giác còn đọng lại, như một người đã băng qua hành trình dài với sông nước, không thể không lơ lửng khi vừa chạm được tới bờ. Sông Di và hành trình của Ân, khiến ta không sao tìm được một lời để neo đậu, để trấn an. Chỉ có cách thả cho mọi thứ trôi đi, trôi đi rồi chìm sâu xuống đáy, như một cách phai tàn.

Ân đi theo sông Di lên thượng nguồn của nó, cũng là cách cậu đi tìm lại bản thân mình, giữa những muôn trùng câu hỏi không lời đáp về số phận của cậu. Ân sống một cuộc đời không có thẻ căn cước về bản thân, không có một danh phận rõ ràng, một giới tính xác định. Cậu cứ bơ vơ giữa chốn đông người, tưởng là đã tìm được một chỗ để neo lại, để vì nó mà đấu tranh, là Tú. Nhưng cuối cùng Tú cũng buông tay để cậu bỗng dưng trôi dat. Và sông chính là nơi đã ôm ấp những số phận như cậu, lênh đênh, lạc trôi trong nỗi đắng cay cam phận, để rồi trong một cơn thù hận dưới đáy, sông nhấn chìm tất cả để kết thúc cho những kiếp người. Đó, hình như là cách giải thoát cuối cùng, duy nhất.

Đọc Sông, không thể không ám ảnh. Có một sự ma mị nào đó trong toàn bộ câu chuyện, trong những miền đất, trong những đôi mắt và nét cười. Trong tất cả những gì mà dòng sông đi qua, soi rọi, nhấn chìm, vồ về. Tất cả đều ma mị và mờ ảo. Nguyễn Ngọc Tư tả chân, không tô vẽ, nhưng chỉ nhấn thả vài nét nên chân dung từng người, từng cảnh, từng vật không rõ rệt. Chỉ có cõi lòng và những vết thương ngổn ngang trên trang giấy, hiển hiện mồn một nhưng hư ảo. Đẹp, nhưng bàng hoàng đau đớn.

Nguyễn Ngọc Tư viết cuốn này có một đôi chỗ hơi gồng, hơi thể hiện cá tính nhân vật và sự trúc trắc của các mảnh đời. Nhưng văn phong của chị rất hợp với câu chuyện, nó dào dạt, tình tứ, âm ỉ nhưng bùng nổ hoang dại vào những thời điểm cần thiết, dẫn người ta lên tới cao trào rồi nín lặng chuẩn bị cho một tiếng thở khẽ, rất dài...

Đọc xong, tui ước gì tui có thể khóc được. Nhưng kỳ lạ là tui không thể. Đây không phải là những nỗi buồn để có thể khóc rồi quên. Nó sẽ là những ám ảnh, dù cuộc sống hàng ngày rồi có thể sẽ làm tui bớt nghĩ về nó, nhưng như tui đã bị với những cuốn khác của chị, tui không bao giờ quên được nó.

Chuyện tình giai nhân

Một cuốn sách nhiều đau khổ, nhiều bóng tối và những giọt nước mắt âm thầm. Nhiều mệt mỏi, uất hận, hằn học. Nhiều toan tính, nhiều nhỏ nhen và nhiều... phụ nữ. Muôn đời, phụ nữ cầm tù chính mình trong cái hệ tư tưởng đã dày lên tầng tầng lớp lớp theo thời gian, như một thứ xiềng xích cột đời nhau vào trong một cái lồng của định kiến, của truyền thống. Mà ngoài kia, trên đầu, làn gió mới của thời đại tự do đang thổi lên từng cơn ào ạt.

Trương Ái Linh là một cái tên quen thuộc. Chí ít, bạn cũng nên biết bà là tác giả của Sắc, Giới - đã được chuyển thể thành phim và gây sóng gió cách đây ít lâu. Trương Ái Linh là một phụ nữ gánh đủ cái đau đớn mà xã hội đè lên vai của người phụ nữ, cũng là người đã tìm được đến với cuộc sống tự do nhưng rồi lại cô đơn trong cái tự do ấy. Bởi vậy, bà viết không chút gồng mình, không chút khoan dung. Bà viết như kể chuyện, không bình luận, cũng không lên án hay oán than. Chúng ta chỉ có thể biết được thứ cảm xúc của chính mình khi đọc xong tập truyện : có xót xa, có đồng cảm, nhưng cũng có phẫn nộ. Dù vậy, dù phẫn nộ bởi sự cay nghiệt của những người phụ nữ trong những câu chuyện, nhưng rồi cũng không thể chùng lòng mà bao dung, bởi vì cuộc đời họ có quá nhiều bóng đêm bao phủ, quá nhiều nhọc nhằn phải nặng mang, quá nhiều nợ nầng phải trang trải.

Trương Ái Linh không có lối viết ủy mị, lãng mạn. Các nhân vật của bà cũng không có lấy một chút lãng mạn nào. Họ toan tính thiệt hơn, họ cân nhắc đong đếm. Và họ khổ đau cô đơn trong sự toan tính của mình.Họ không tin ai, không tin cả chính mình. Phụ nữ không đẹp không dám mơ người ta yêu mình, còn phụ nữ đẹp khi được người ta tỏ tình cũng không tin rằng người ta thật lòng. Cuộc đời họ luẩn quẩn trong cái vòng nghi kị, ghen ghét và chê bôi nhau, rồi cũng đâm ra chê bôi cả bản thân mình. Họ đau khổ nhưng không biết cách nào để thoát ra được.

Phụ nữ trong câu chuyện của Trương Ái Linh buông neo cuộc đời mình ở một vùng biển mên mông, nơi bến bờ mới đã thấp thoáng nhưng rồi không mấy người đủ can đảm bỏ nơi mình sống để bơi đến. Họ cứ sống với những gì cố hữu mà lòng không thôi mơ đến những chân trời khác. Giấc mơ cứ đè nặng lên tâm hồn đầy bóng tối của họ, hắt cái ánh sáng huyễn hoặc và đầy mật ngọt của tình yêu hứa hẹn lên những vết thương đã cứa chằng chịt trái tim. Để đến khi đau đớn không chịu nổi, họ lại đổ lên đầu một người phụ nữ khác, cứ thế tiếp tục, tiếp tục... những vết thương.

Phụ nữ khổ vì chính họ. Thôi thì đành thừa nhận thế cho xong. Bởi thế, đàn ông có chịu bình đẳng giới, có galant, có yêu thương, có chiều chuộng cỡ nào đi nữa, thì phụ nữ chỉ có thể hết khổ khi tự họ cởi trói cho mình, tự họ biết yêu mình. Câu chuyện này tới giờ vẫn chưa có hồi kết ^^

Đồi gió hú

Nếu bình chọn một cuốn sách về tình yêu, tôi sẽ vote cho cuốn này. Vote hết tất cả những ngôi sao mà tôi có hehehe

Những cuốn tiểu thuyết diễm tình, những thiên tình sử lãng mạn được viết thành những áng văn chương , hay kể cả những cuốn ngôn tình tràn ngập tình với tình, tất cả đều không đem lại một thứ cảm giác mãnh liệt về tình yêu như cuốn sách mà tôi đang đọc. Dù tôi đã đọc nó hồi mười tám hai mươi gì đó, rồi bây giờ đã là ba mươi, lần nào cũng trọn vẹn thứ cảm giác rùng mình vì sự hoang dại và thứ tình yêu ào ạt như gió hú trên đỉnh đồi.

Đồi gió hú được xếp vào hàng kinh điển của văn chương thế giới. Cho dù nó xuất hiện dưới bộ dạng nào ; một cuốn sách, một bộ phim, một bài thơ hay một bài hát, nó đều chuyển tải được cái thông điệp mà Emily Bronte đã rút hết cuộc đời mình cất vào trong ấy : tình yêu. Thứ tình yêu cháy bỏng đam mê, thứ tình yêu đầy tham vọng chiếm hữu, thứ tình yêu ngùn ngụt lửa căm thù. Bản thân thứ tình yêu đó đã đủ gây chấn động nhân loại, không phải nhờ thêm một nghệ thuật nào nâng đỡ nữa. Nên bởi thế, dù là sách, là phim, hay là nhạc, tình yêu của Heathcliff với Catherine là thứ tình yêu không cần đến một sự chuyển tải nào khác, tự nó khuấy động bầu không khí xung quanh, đến mức người ta không quan tâm là mình đang đọc, đang nghe hay đang xem. Người ta chỉ biết mình đang chứng kiến một câu chuyện tình yêu, say đắm, mãnh liệt và vị kỉ

Chất hoang dại của Heathcliff và Catherine khiến tình yêu của họ quay về với bản chất thực sự của tình yêu, với cái bản năng chiếm hữu và làm tổn thương nhau cũng như làm tổn thương chính mình. Tình yêu cho họ có cái tự tin xát muối vào nhau cả ngàn lần, tự tin đâm vào nhau hàng chục vết thương mà vẫn biết rằng họ không bao giờ mất nhau. Họ yêu nhau dữ dội và thậm chí thách thức cả cái chết.

Chưa có một cuốn tiểu thuyết nào lại đem lại nhiều lòng tin về tình yêu nhiều như thế. Catherine không lựa chọn Heathcliff , bằng toàn bộ lý trí của mình. Nhưng khi yêu, cô biết rõ là cô đã yêu Heathcliff dù anh ta man rợ, hiểm ác, tàn độc. Dù anh ta nghèo khổ, bần cùng. Đó là thứ tình yêu bất chấp và thách thức, ngạo nghễ hoang dại đúng như tính cách của hai người. Nó khiến tôi tin rằng, rốt cuộc thì bất cứ ai cũng sẽ được yêu, dù bản chất có xấu xa, thấp hèn, có tàng bạo ngang ngược, thì họ vẫn tìm thấy được một tình yêu như Heathcliff đã tìm được Catherine, như mối dây không bao giờ đứt lìa, ngay cả khi chết.

"Em yêu tôi, vậy em có quyền gì mà bỏ tôi, Catherine"

Ồ, có chứ. Đó là quyền của người được yêu, biết rằng họ sẽ thuộc về nhau mãi mãi cho dù họ có bỏ nhau cả mấy trăm lần. Kể ra, cũng thật khó tin nhưng Emily Bronte đã kể một câu chuyện với quá nhiều ma lực khiến người ta sẽ mãi mãi không thôi tin vào nó, như một cách bấu víu vào những giấc mơ bản năng, thầm kín trong thế giới hỗn độn và ảm đạm này.

Bạn có tin vào tình yêu không?

Tôi thì, thỉnh thoảng thấy cũng có

Một mùa thơ dại

Dịch giả Phan Nhật Chiêu đã gọi Ichiyo là thiên tài của mùa xuân vĩnh cửu. Người con gái mãi mãi dừng lại ở tuổi 24, với 24 mùa xuân trải qua trong đời, nhưng đã kịp ghi dấu tên tuổi của mình trên văn đàn như một ngôi sao lấp lánh.

Ichiyo- Nhất Diệp, cô gái ấy đã lấy hình ảnh một ngọn cỏ lau đơn độc mà Bồ Đề Đạt Ma dùng để vượt sông Dương Tử làm bút hiệu của mình, và cũng giống như ngọn cỏ lau mỏng manh, cuộc đời của nàng ngắn ngủi nhưng đẹp đẽ và thanh cao, những gì nàng để lại là một linh hồn vừa hiện hữu vừa không sao nắm bắt nổi qua những trang viết

Takekurabe - Một mùa thơ dại- nguyên nghĩa gốc của nó là So sánh chiều cao. Tựa của cuốn sách được rút ra từ trong bài thơ mà một chàng trai gửi cho người yêu trong tác phẩm cổ điển Nhật bản có tên là Truyện Ise :


Khắc dấu chiều cao
bên thành giếng nước
vượt xa lúc nào
kể từ ngày cuối
nhìn em nao nao

Và vì thế, Một mùa thơ dại là câu chuyện tình thơ dại dấu trong mình nó những số phận và những cuộc đời, là thế giới của những đứa trẻ chuẩn bị thành người lớn, đánh rơi tuổi thơ bên triền dốc của sự trưởng thành với cái định mệnh mà cuộc đời dành cho. Trưởng thành là một cột mốc mang nhiều vết thương như một sự đánh đổi , để có từng trãi, ta phải đánh đổi thơ ngây, để có mạnh mẽ ta phải chấp nhận nỗi cô đơn lạnh lẽo.

Một mùa thơ dại được ví như một khúc bi ca về nước Nhật, đất nước đã vượt qua thời thơ ngây của mình để trở thành một cường quốc mạnh mẽ nhưng trong lòng không sao quên được những nỗi buồn bã cô đơn...

Một cuốn sách mà nhất định nhất định bạn phải đọc.

Người tình

Đây là một cuốn tiểu thuyết rất kỳ lạ. Mỏng, ngắn nhưng lại biết khơi gợi người đọc tới với rất nhiều thứ cảm giác. Bồn chồn, khắc khoải, uể oải, mãnh liệt, nồng nàn lẫn cả chán chường. Thứ cảm giác tồn tại trong một bầu không khí nóng ẩm hừng hực nhiệt đới, rực rỡ của thanh xuân lẫn rực rỡ của phai tàn. Những nhân vật sống hết mình với tình yêu nhưng mang trong mình một nỗi u uất sầu muộn đến rã rời, không đủ sức đi tìm cho nhau một tương lai hứa hẹn. Và xứ sở nơi họ gặp nhau , miền đồng bằng nhiệt đới phù sa với những ngã rẽ mênh mông sông nước, giống như chính mạch truyện, cứ dẫn người ta đi theo dòng hoài niệm miên man, trôi xuôi ký ức để tìm lại miền nhớ xanh thẳm đã bồi lở theo thời gian với những khoảng trống thênh thang thinh lặng.

Cô mười lăm tuổi. Khuôn mặt và thân hình non nớt nhưng tâm hồn già cỗi hơn thế rất nhiều. Có thể ở cái xứ sở nhiệt đới nóng ẩm này, tâm hồn của người ta bị thiêu đốt nhiều hơn , bằng những nỗi sợ hãi, mông lung, bằng sự xa lạ. Nhưng trên chuyến phà Vĩnh Long- Sa Đéc năm ấy, cô đã tìm thấy một người đàn ông của cuộc đời mình, dù cô không nhận ra. Người đàn ông thuộc về xứ sở mà cô muốn rời bỏ, người đàn ông khác màu da, khác địa vị và khác luôn cả giai cấp. Người đàn ông đã yêu cô từ cái nhìn đầu tiên, yêu say đắm và tuyệt vọng cho đến tận cuối đời.

Họ đến với nhau. À không, họ lao vào nhau. Giống như thác lũ, giống như đập nước vào ngày mở chắn. Họ thả mình vào cơn lốc dục vọng để lãng quên. Lãng quên nỗi đau không thốt nên lời, lãng quên sự bất lực tuyệt vọng của mình, sự héo úa tàn phai của tuổi thanh xuân đã hằn lên tim họ, lãng quên cuộc đời, lãng quên thời gian...

Cô còn quá trẻ để nhận diện tình yêu. Cô nghĩ mình đến với anh vì tiền, vì tình dục. Cô không biết rằng cái anh mang đến cho cô không chỉ có chừng đó. Dù anh không thể giữ cô đến cùng, dù anh yếu đuối, hoang mang, không bảo vệ cô trước danh gia vọng tộc của mình, nhưng anh đem đến cho cô cảm giác bình yên, nơi nương náu trong cuộc đời buồn bã của mình. Cô không biết rằng được ở bên nhau trong cảm giác yên ả, thanh thản êm đềm, là đã được ở trong tình yêu...

Cuốn sách không dễ đọc. Nó trúc trắc , lấp lửng, bỏ dở nửa chừng. Nó như những nhánh sông ở miền Tây, bất thần rẽ ngang, bất thần đổi dòng. Nó để lại những khoảng trống hoang mang trong lòng người đọc, vất vả đi tìm cách xâu chuỗi các sự kiện rồi phỏng đoán, nghi ngờ. Nhưng theo mạch văn và bút pháp nồng nàng của Marguerite ta mặc lòng để những sự kiện không trọn vẹn trôi xuôi, thả mình vào ký ức đầy biến động, đầy ngọt ngào và u uất của những con người trong câu chuyện. Mặc lòng chấp nhận những khoảng trống bí hiểm không lời giải thích đó như chấp nhận một kỷ niệm đã không còn hình hài rõ nét, đã bị bôi xóa theo tháng năm, chỉ còn lại hương vị nồng nàng gợi cảm của nó, phảng phất , quấn quýt, lay động...

Marguerite Duras đã kể câu chuyện của đời bà, câu chuyện tình xốn xang nồng nàng đầy nhục cảm. Nhưng người ta nói rằng, anh không phải là nhân vật chính, cô cũng không phải là nhân vật chính. Nhân vật chính của câu chuyện chính là cái xứ sở, nơi cô và anh gặp nhau. Là miền đất mênh mông sông nước, những cơn gió, những cơn mưa nhiệt đới, những mùa nắng ngột ngạt, những triền sông xanh thẳm. Nơi cô dù muốn bỏ đi, vừa không thể nào phủ nhận được nó đã tạo nên chính cô bây giờ. Miền đất đã cho cô cái vẻ đẹp của nó, sự ngây thơ, sự nồng nhiệt, sự uể oải, sự cô độc hoang hoải của nó. Duras đã trả lời tuần báo Le Nouvel Observateur về cuốn sách, về Việt Nam thế này: “Tôi không thể giải thích được rõ rệt tại sao, chỉ cảm thấy nơi chốn chào đời ấy, với tuổi thơ và tuổi trẻ của tôi ở đó, càng về cuối đời càng trở thành một hiện tại sáng rỡ trong tôi, như đó là bản mệnh tôi, như chính phần đời xa thẳm ấy tạo ra tất cả những phần đời của tôi sau đó. Và điều lạ lùng, cuốn sách này còn như sự chiếu sáng, một cắt nghĩa cho tất cả những cuốn sách tôi đã viết ra”…