Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Dòng sông kỳ bí

Cái tên Dennis Lehane xuất hiện ở Việt Nam lần đầu tiên, đã gây một cú ép phê nho nhỏ trong lòng người đọc sách lẫn xem phim, bằng cuốn sách lẫn bộ phim đã được chuyển thể chính từ cuốn sách ấy, cùng cái tên ấy : Shutter Island - Đảo kinh hoàng. Lần thứ hai Dennis quay lại, bằng cuốn tiểu thuyết cũng được chuyển thể thành phim khác : Mystic River

Cũng như Nguyễn Ngọc Tư , viết Sông rồi mới viết Đảo, Dennis cũng viết Mystic River trước Shutter Island :)) Mystic River không có cái kết gây shock cũng như những tình huống kinh dị đến ngạt thở, không có cái vẻ âm u bí hiểm cũng như những nỗi bàng hoàng; cuốn sách này đời thường hơn, tĩnh lặng hơn, như một dòng sông cứ thờ ơ trôi theo ngày tháng, giấu tận đáy lòng mình những tăm tối uất ức cứ sôi sục, âm ỉ chực trào. Rồi một ngày kia nó trào lên thật.

Câu chuyện được kể một cách trật tự, lớp lang theo dòng thời gian, tưởng như chuyện nào chuyện ấy đã sáng rõ dưới ánh mặt trời, ấy thế mà người nào người nấy cứ phải gọi là tràn trề bí mật. Bí mật được đào sâu, chôn chặt tận đáy lòng, dưới vẻ mặt thờ ơ, trầm tĩnh nhưng bí mật hoàn toàn không thể nằm yên bởi nó còn quá nhiều điều không cam tâm, không giải tỏa, không tiêu hóa nổi. Thế nên bí mật cứ như một con quái vật âm thầm lớn lên trong tâm hồn những đứa trẻ, cho đến khi chúng trưởng thành thì con quái vật ấy cũng lớn với đầy móng vuốt và khát máu.

Dennis không kể một câu chuyện trinh thám, dù trông có vẻ như vậy. Cũng không kể một câu chuyện kinh di, bởi vì nó không phải thứ chuyện khủng khiếp mà người ta đem ra hù nhau. Nó là một câu chuyện mà thỉnh thoảng chúng ta phải đối mặt trong đời, dù muốn hay không : là chết chóc, mất mát, chia lìa, tổn thương, mặc cảm, là đau đớn, là nhục nhã ề chề. Tất cả những cảm giác ấy, chính là cái bóng ma kinh khủng nhất mà chúng ta phải gặp chứ không phải những ảo ảnh từ nghĩa địa hay những con ma cà rồng bước ra từ truyện tranh. Và cứ thế, Dennis kể một cách chậm rãi câu chuyện cuộc đời của ba người bạn, mà số phận đã chia cắt họ bằng nỗi ám ảnh từ tuổi thơ, dù vẫn sống đâu đó quanh quẩn bên nhau nhưng mỗi người đã tự xây cho mình một bức tường ngăn cách với người kia bằng thứ mặc cảm tội lỗi và những uất ức căm hận không sao giải tỏa nổi. Càng ngày bức tường càng cao, tâm hồn càng tăm tối và dòng sông- cuộc đời họ vì thế càng lúc càng sâu, càng nhiều sóng.

Hiếm khi đọc một cuốn truyện trinh thám gây ra cảm giác yên tĩnh như thế. Chẳng có gì giật gân hết, chẳng có gì đột ngột hoặc thất kinh hồn vía cả. Chỉ có một cảm giác u sầu nặng nề càng đọc càng đi dần dần vào trong người, khiến tâm hồn trĩu xuồng, tan nát vì những câu chuyện mà ta biết chắc là có thật, chẳng có gì là hư cấu; nó thật và trần trụi như cuộc sống, và buồn bã bế tắc như là cuộc sống. Cái ám ảnh của câu chuyện nằm ở chỗ đó, cái chỗ rất thật mà khôn cùng ấy, cái chỗ mà tâm hồn con người càng soi rọi càng thấy mịt mờ , càng lặn sâu càng không tìm thấy đáy ấy. Và con người càng lúc càng lún sâu vào trong nỗi ám ảnh khôn nguôi ấy, chưa bao giờ thoát được ra khỏi nó.

Cho nên, không thể  gọi đây là một cuốn tiểu thuyết trinh thám-kinh dị thông thường được nữa.

Sông

Đọc Sông của Nguyễn Ngọc Tư.

Sông Di đúng như tên gọi của nó, dân dã, bình thường mà nghĩ kỹ hơn một chút về cái tên này thì đã bắt đầu thấy cuồn cuộn sóng. Và khi đọc xong cuốn sách này, thì tròng trành, chênh chao chính là thứ cảm giác còn đọng lại, như một người đã băng qua hành trình dài với sông nước, không thể không lơ lửng khi vừa chạm được tới bờ. Sông Di và hành trình của Ân, khiến ta không sao tìm được một lời để neo đậu, để trấn an. Chỉ có cách thả cho mọi thứ trôi đi, trôi đi rồi chìm sâu xuống đáy, như một cách phai tàn.

Ân đi theo sông Di lên thượng nguồn của nó, cũng là cách cậu đi tìm lại bản thân mình, giữa những muôn trùng câu hỏi không lời đáp về số phận của cậu. Ân sống một cuộc đời không có thẻ căn cước về bản thân, không có một danh phận rõ ràng, một giới tính xác định. Cậu cứ bơ vơ giữa chốn đông người, tưởng là đã tìm được một chỗ để neo lại, để vì nó mà đấu tranh, là Tú. Nhưng cuối cùng Tú cũng buông tay để cậu bỗng dưng trôi dat. Và sông chính là nơi đã ôm ấp những số phận như cậu, lênh đênh, lạc trôi trong nỗi đắng cay cam phận, để rồi trong một cơn thù hận dưới đáy, sông nhấn chìm tất cả để kết thúc cho những kiếp người. Đó, hình như là cách giải thoát cuối cùng, duy nhất.

Đọc Sông, không thể không ám ảnh. Có một sự ma mị nào đó trong toàn bộ câu chuyện, trong những miền đất, trong những đôi mắt và nét cười. Trong tất cả những gì mà dòng sông đi qua, soi rọi, nhấn chìm, vồ về. Tất cả đều ma mị và mờ ảo. Nguyễn Ngọc Tư tả chân, không tô vẽ, nhưng chỉ nhấn thả vài nét nên chân dung từng người, từng cảnh, từng vật không rõ rệt. Chỉ có cõi lòng và những vết thương ngổn ngang trên trang giấy, hiển hiện mồn một nhưng hư ảo. Đẹp, nhưng bàng hoàng đau đớn.

Nguyễn Ngọc Tư viết cuốn này có một đôi chỗ hơi gồng, hơi thể hiện cá tính nhân vật và sự trúc trắc của các mảnh đời. Nhưng văn phong của chị rất hợp với câu chuyện, nó dào dạt, tình tứ, âm ỉ nhưng bùng nổ hoang dại vào những thời điểm cần thiết, dẫn người ta lên tới cao trào rồi nín lặng chuẩn bị cho một tiếng thở khẽ, rất dài...

Đọc xong, tui ước gì tui có thể khóc được. Nhưng kỳ lạ là tui không thể. Đây không phải là những nỗi buồn để có thể khóc rồi quên. Nó sẽ là những ám ảnh, dù cuộc sống hàng ngày rồi có thể sẽ làm tui bớt nghĩ về nó, nhưng như tui đã bị với những cuốn khác của chị, tui không bao giờ quên được nó.

Chuyện tình giai nhân

Một cuốn sách nhiều đau khổ, nhiều bóng tối và những giọt nước mắt âm thầm. Nhiều mệt mỏi, uất hận, hằn học. Nhiều toan tính, nhiều nhỏ nhen và nhiều... phụ nữ. Muôn đời, phụ nữ cầm tù chính mình trong cái hệ tư tưởng đã dày lên tầng tầng lớp lớp theo thời gian, như một thứ xiềng xích cột đời nhau vào trong một cái lồng của định kiến, của truyền thống. Mà ngoài kia, trên đầu, làn gió mới của thời đại tự do đang thổi lên từng cơn ào ạt.

Trương Ái Linh là một cái tên quen thuộc. Chí ít, bạn cũng nên biết bà là tác giả của Sắc, Giới - đã được chuyển thể thành phim và gây sóng gió cách đây ít lâu. Trương Ái Linh là một phụ nữ gánh đủ cái đau đớn mà xã hội đè lên vai của người phụ nữ, cũng là người đã tìm được đến với cuộc sống tự do nhưng rồi lại cô đơn trong cái tự do ấy. Bởi vậy, bà viết không chút gồng mình, không chút khoan dung. Bà viết như kể chuyện, không bình luận, cũng không lên án hay oán than. Chúng ta chỉ có thể biết được thứ cảm xúc của chính mình khi đọc xong tập truyện : có xót xa, có đồng cảm, nhưng cũng có phẫn nộ. Dù vậy, dù phẫn nộ bởi sự cay nghiệt của những người phụ nữ trong những câu chuyện, nhưng rồi cũng không thể chùng lòng mà bao dung, bởi vì cuộc đời họ có quá nhiều bóng đêm bao phủ, quá nhiều nhọc nhằn phải nặng mang, quá nhiều nợ nầng phải trang trải.

Trương Ái Linh không có lối viết ủy mị, lãng mạn. Các nhân vật của bà cũng không có lấy một chút lãng mạn nào. Họ toan tính thiệt hơn, họ cân nhắc đong đếm. Và họ khổ đau cô đơn trong sự toan tính của mình.Họ không tin ai, không tin cả chính mình. Phụ nữ không đẹp không dám mơ người ta yêu mình, còn phụ nữ đẹp khi được người ta tỏ tình cũng không tin rằng người ta thật lòng. Cuộc đời họ luẩn quẩn trong cái vòng nghi kị, ghen ghét và chê bôi nhau, rồi cũng đâm ra chê bôi cả bản thân mình. Họ đau khổ nhưng không biết cách nào để thoát ra được.

Phụ nữ trong câu chuyện của Trương Ái Linh buông neo cuộc đời mình ở một vùng biển mên mông, nơi bến bờ mới đã thấp thoáng nhưng rồi không mấy người đủ can đảm bỏ nơi mình sống để bơi đến. Họ cứ sống với những gì cố hữu mà lòng không thôi mơ đến những chân trời khác. Giấc mơ cứ đè nặng lên tâm hồn đầy bóng tối của họ, hắt cái ánh sáng huyễn hoặc và đầy mật ngọt của tình yêu hứa hẹn lên những vết thương đã cứa chằng chịt trái tim. Để đến khi đau đớn không chịu nổi, họ lại đổ lên đầu một người phụ nữ khác, cứ thế tiếp tục, tiếp tục... những vết thương.

Phụ nữ khổ vì chính họ. Thôi thì đành thừa nhận thế cho xong. Bởi thế, đàn ông có chịu bình đẳng giới, có galant, có yêu thương, có chiều chuộng cỡ nào đi nữa, thì phụ nữ chỉ có thể hết khổ khi tự họ cởi trói cho mình, tự họ biết yêu mình. Câu chuyện này tới giờ vẫn chưa có hồi kết ^^

Đồi gió hú

Nếu bình chọn một cuốn sách về tình yêu, tôi sẽ vote cho cuốn này. Vote hết tất cả những ngôi sao mà tôi có hehehe

Những cuốn tiểu thuyết diễm tình, những thiên tình sử lãng mạn được viết thành những áng văn chương , hay kể cả những cuốn ngôn tình tràn ngập tình với tình, tất cả đều không đem lại một thứ cảm giác mãnh liệt về tình yêu như cuốn sách mà tôi đang đọc. Dù tôi đã đọc nó hồi mười tám hai mươi gì đó, rồi bây giờ đã là ba mươi, lần nào cũng trọn vẹn thứ cảm giác rùng mình vì sự hoang dại và thứ tình yêu ào ạt như gió hú trên đỉnh đồi.

Đồi gió hú được xếp vào hàng kinh điển của văn chương thế giới. Cho dù nó xuất hiện dưới bộ dạng nào ; một cuốn sách, một bộ phim, một bài thơ hay một bài hát, nó đều chuyển tải được cái thông điệp mà Emily Bronte đã rút hết cuộc đời mình cất vào trong ấy : tình yêu. Thứ tình yêu cháy bỏng đam mê, thứ tình yêu đầy tham vọng chiếm hữu, thứ tình yêu ngùn ngụt lửa căm thù. Bản thân thứ tình yêu đó đã đủ gây chấn động nhân loại, không phải nhờ thêm một nghệ thuật nào nâng đỡ nữa. Nên bởi thế, dù là sách, là phim, hay là nhạc, tình yêu của Heathcliff với Catherine là thứ tình yêu không cần đến một sự chuyển tải nào khác, tự nó khuấy động bầu không khí xung quanh, đến mức người ta không quan tâm là mình đang đọc, đang nghe hay đang xem. Người ta chỉ biết mình đang chứng kiến một câu chuyện tình yêu, say đắm, mãnh liệt và vị kỉ

Chất hoang dại của Heathcliff và Catherine khiến tình yêu của họ quay về với bản chất thực sự của tình yêu, với cái bản năng chiếm hữu và làm tổn thương nhau cũng như làm tổn thương chính mình. Tình yêu cho họ có cái tự tin xát muối vào nhau cả ngàn lần, tự tin đâm vào nhau hàng chục vết thương mà vẫn biết rằng họ không bao giờ mất nhau. Họ yêu nhau dữ dội và thậm chí thách thức cả cái chết.

Chưa có một cuốn tiểu thuyết nào lại đem lại nhiều lòng tin về tình yêu nhiều như thế. Catherine không lựa chọn Heathcliff , bằng toàn bộ lý trí của mình. Nhưng khi yêu, cô biết rõ là cô đã yêu Heathcliff dù anh ta man rợ, hiểm ác, tàn độc. Dù anh ta nghèo khổ, bần cùng. Đó là thứ tình yêu bất chấp và thách thức, ngạo nghễ hoang dại đúng như tính cách của hai người. Nó khiến tôi tin rằng, rốt cuộc thì bất cứ ai cũng sẽ được yêu, dù bản chất có xấu xa, thấp hèn, có tàng bạo ngang ngược, thì họ vẫn tìm thấy được một tình yêu như Heathcliff đã tìm được Catherine, như mối dây không bao giờ đứt lìa, ngay cả khi chết.

"Em yêu tôi, vậy em có quyền gì mà bỏ tôi, Catherine"

Ồ, có chứ. Đó là quyền của người được yêu, biết rằng họ sẽ thuộc về nhau mãi mãi cho dù họ có bỏ nhau cả mấy trăm lần. Kể ra, cũng thật khó tin nhưng Emily Bronte đã kể một câu chuyện với quá nhiều ma lực khiến người ta sẽ mãi mãi không thôi tin vào nó, như một cách bấu víu vào những giấc mơ bản năng, thầm kín trong thế giới hỗn độn và ảm đạm này.

Bạn có tin vào tình yêu không?

Tôi thì, thỉnh thoảng thấy cũng có

Một mùa thơ dại

Dịch giả Phan Nhật Chiêu đã gọi Ichiyo là thiên tài của mùa xuân vĩnh cửu. Người con gái mãi mãi dừng lại ở tuổi 24, với 24 mùa xuân trải qua trong đời, nhưng đã kịp ghi dấu tên tuổi của mình trên văn đàn như một ngôi sao lấp lánh.

Ichiyo- Nhất Diệp, cô gái ấy đã lấy hình ảnh một ngọn cỏ lau đơn độc mà Bồ Đề Đạt Ma dùng để vượt sông Dương Tử làm bút hiệu của mình, và cũng giống như ngọn cỏ lau mỏng manh, cuộc đời của nàng ngắn ngủi nhưng đẹp đẽ và thanh cao, những gì nàng để lại là một linh hồn vừa hiện hữu vừa không sao nắm bắt nổi qua những trang viết

Takekurabe - Một mùa thơ dại- nguyên nghĩa gốc của nó là So sánh chiều cao. Tựa của cuốn sách được rút ra từ trong bài thơ mà một chàng trai gửi cho người yêu trong tác phẩm cổ điển Nhật bản có tên là Truyện Ise :


Khắc dấu chiều cao
bên thành giếng nước
vượt xa lúc nào
kể từ ngày cuối
nhìn em nao nao

Và vì thế, Một mùa thơ dại là câu chuyện tình thơ dại dấu trong mình nó những số phận và những cuộc đời, là thế giới của những đứa trẻ chuẩn bị thành người lớn, đánh rơi tuổi thơ bên triền dốc của sự trưởng thành với cái định mệnh mà cuộc đời dành cho. Trưởng thành là một cột mốc mang nhiều vết thương như một sự đánh đổi , để có từng trãi, ta phải đánh đổi thơ ngây, để có mạnh mẽ ta phải chấp nhận nỗi cô đơn lạnh lẽo.

Một mùa thơ dại được ví như một khúc bi ca về nước Nhật, đất nước đã vượt qua thời thơ ngây của mình để trở thành một cường quốc mạnh mẽ nhưng trong lòng không sao quên được những nỗi buồn bã cô đơn...

Một cuốn sách mà nhất định nhất định bạn phải đọc.

D 

Người tình

Đây là một cuốn tiểu thuyết rất kỳ lạ. Mỏng, ngắn nhưng lại biết khơi gợi người đọc tới với rất nhiều thứ cảm giác. Bồn chồn, khắc khoải, uể oải, mãnh liệt, nồng nàn lẫn cả chán chường. Thứ cảm giác tồn tại trong một bầu không khí nóng ẩm hừng hực nhiệt đới, rực rỡ của thanh xuân lẫn rực rỡ của phai tàn. Những nhân vật sống hết mình với tình yêu nhưng mang trong mình một nỗi u uất sầu muộn đến rã rời, không đủ sức đi tìm cho nhau một tương lai hứa hẹn. Và xứ sở nơi họ gặp nhau , miền đồng bằng nhiệt đới phù sa với những ngã rẽ mênh mông sông nước, giống như chính mạch truyện, cứ dẫn người ta đi theo dòng hoài niệm miên man, trôi xuôi ký ức để tìm lại miền nhớ xanh thẳm đã bồi lở theo thời gian với những khoảng trống thênh thang thinh lặng.

Cô mười lăm tuổi. Khuôn mặt và thân hình non nớt nhưng tâm hồn già cỗi hơn thế rất nhiều. Có thể ở cái xứ sở nhiệt đới nóng ẩm này, tâm hồn của người ta bị thiêu đốt nhiều hơn , bằng những nỗi sợ hãi, mông lung, bằng sự xa lạ. Nhưng trên chuyến phà Vĩnh Long- Sa Đéc năm ấy, cô đã tìm thấy một người đàn ông của cuộc đời mình, dù cô không nhận ra. Người đàn ông thuộc về xứ sở mà cô muốn rời bỏ, người đàn ông khác màu da, khác địa vị và khác luôn cả giai cấp. Người đàn ông đã yêu cô từ cái nhìn đầu tiên, yêu say đắm và tuyệt vọng cho đến tận cuối đời.

Họ đến với nhau. À không, họ lao vào nhau. Giống như thác lũ, giống như đập nước vào ngày mở chắn. Họ thả mình vào cơn lốc dục vọng để lãng quên. Lãng quên nỗi đau không thốt nên lời, lãng quên sự bất lực tuyệt vọng của mình, sự héo úa tàn phai của tuổi thanh xuân đã hằn lên tim họ, lãng quên cuộc đời, lãng quên thời gian...

Cô còn quá trẻ để nhận diện tình yêu. Cô nghĩ mình đến với anh vì tiền, vì tình dục. Cô không biết rằng cái anh mang đến cho cô không chỉ có chừng đó. Dù anh không thể giữ cô đến cùng, dù anh yếu đuối, hoang mang, không bảo vệ cô trước danh gia vọng tộc của mình, nhưng anh đem đến cho cô cảm giác bình yên, nơi nương náu trong cuộc đời buồn bã của mình. Cô không biết rằng được ở bên nhau trong cảm giác yên ả, thanh thản êm đềm, là đã được ở trong tình yêu...

Cuốn sách không dễ đọc. Nó trúc trắc , lấp lửng, bỏ dở nửa chừng. Nó như những nhánh sông ở miền Tây, bất thần rẽ ngang, bất thần đổi dòng. Nó để lại những khoảng trống hoang mang trong lòng người đọc, vất vả đi tìm cách xâu chuỗi các sự kiện rồi phỏng đoán, nghi ngờ. Nhưng theo mạch văn và bút pháp nồng nàng của Marguerite ta mặc lòng để những sự kiện không trọn vẹn trôi xuôi, thả mình vào ký ức đầy biến động, đầy ngọt ngào và u uất của những con người trong câu chuyện. Mặc lòng chấp nhận những khoảng trống bí hiểm không lời giải thích đó như chấp nhận một kỷ niệm đã không còn hình hài rõ nét, đã bị bôi xóa theo tháng năm, chỉ còn lại hương vị nồng nàng gợi cảm của nó, phảng phất , quấn quýt, lay động...

Marguerite Duras đã kể câu chuyện của đời bà, câu chuyện tình xốn xang nồng nàng đầy nhục cảm. Nhưng người ta nói rằng, anh không phải là nhân vật chính, cô cũng không phải là nhân vật chính. Nhân vật chính của câu chuyện chính là cái xứ sở, nơi cô và anh gặp nhau. Là miền đất mênh mông sông nước, những cơn gió, những cơn mưa nhiệt đới, những mùa nắng ngột ngạt, những triền sông xanh thẳm. Nơi cô dù muốn bỏ đi, vừa không thể nào phủ nhận được nó đã tạo nên chính cô bây giờ. Miền đất đã cho cô cái vẻ đẹp của nó, sự ngây thơ, sự nồng nhiệt, sự uể oải, sự cô độc hoang hoải của nó. Duras đã trả lời tuần báo Le Nouvel Observateur về cuốn sách, về Việt Nam thế này: “Tôi không thể giải thích được rõ rệt tại sao, chỉ cảm thấy nơi chốn chào đời ấy, với tuổi thơ và tuổi trẻ của tôi ở đó, càng về cuối đời càng trở thành một hiện tại sáng rỡ trong tôi, như đó là bản mệnh tôi, như chính phần đời xa thẳm ấy tạo ra tất cả những phần đời của tôi sau đó. Và điều lạ lùng, cuốn sách này còn như sự chiếu sáng, một cắt nghĩa cho tất cả những cuốn sách tôi đã viết ra”…  

Bay đêm

Nếu như có một cái chết nào được gọi là nên thơ, thì đó là cái chết giữa bầu trời bao la. Dĩ nhiên, chuyện đó chỉ xảy ra khi bạn đang bay. Bay một cách chủ động chứ không phải ngồi trong cái khoang thấp tè dài sọc đợi giờ đáp xuống đường băng :D

Trong cuốn Nam tước trên cây của Italo Calvino, chàng Nam tước Bóng Râm cũng chọn cho mình một cách ra đi như thế. Như cánh chim khuất nẻo, như một vì sao tắt lịm giữa thinh không. Cái chết- hay là sự kết thúc của chàng để lại cho câu chuyện một dư âm mạnh mẽ về sự nhẹ nhõm và thanh thản, sự kỳ diệu của cuộc đời và sự êm ái của lời giã biệt.

Bỗng dưng tui nghĩ về Saint Exupery, về những người đàn ông sống hầu hết cuộc đời trên bầu trời, ngắm thế giới rộng lớn bên dưới qua cánh cửa máy bay. Cảm giác đó thật tuyệt vời. Những cánh đồng mênh mông, những thung lũng bát ngát, những thành phố dát đèn màu vương vãi những hạt ngọc lấp lánh của mình. Mọi thứ trở nên kỳ diệu khi ngắm từ xa, khi nhìn tổng thể. Và tự dưng tất cả những nghĩ suy đều trở nên phổ quát, chiêm nghiệm.

Nhưng cùng với nó là cảm giác đơn độc.

Nghề phi công, nhất là phi công của Không Bưu là một nghề hết sức đơn độc. Không có ai sát cánh cùng ta ngoài những kiện hàng những lá thư câm lặng. Và bầu trời lúc đêm đen dù muôn vàn ngôi sao sáng thì cũng không có một tiếng vọng nào đến từ phía ấy. Chỉ có những cơn gió ngút ngàn lồng lộng, chỉ có những cơn bão cát , chỉ có sự sợ hãi của chính mình vây chặt lấy mình, bóp nghẹt cả trái tim .

Exupery viết về những người anh hùng bình dị, những người đã vượt qua phong ba, vượt qua bão táp và vượt qua sự sợ hãi bình thường của con người để đeo đuổi nghiệp lái máy bay. Để sống và chết trên bầu trời , như một ngôi sao vụt tắt vào sớm mai yên ả

Socrates in love - Tiếng gọi tình yêu trong lòng thế giới


Đã lỡ buồn, buồn nốt cho trọn hôm nay

Nhưng đây là một nỗi buồn đẹp, là thứ nỗi buồn đã kết tinh theo tháng năm, long lanh như là kỷ niệm. Kỷ niệm vốn đã đẹp bởi nó đã nhòa theo thời gian, nhưng kỷ niệm được khắc ghi bằng một vết thương thì nó vừa đẹp bằng cái phảng phất mơ hồ , vừa đẹp bằng tất cả các đường nét rõ ràng kiêu hãnh, nó như ở đó bên ta, lại vừa như xa xăm diệu vợi. Nó là một nỗi buồn mênh mang, vừa lộng lẫy vừa dung dị, mang cả đau đớn lẫn êm đềm

Socrates in love - Tiếng gọi tình yêu giữa lòng thế giới. Cái tựa gợi nên một âm thanh vô vọng giống như một tiếng thì thầm bị rơi vào quên lãng, nhưng nó mãi âm ỉ thổn thức hoài trong những trái tim yêu. Hơn nữa đó là những trái tim yêu của tuổi mười sáu, mười bảy khi lần đầu rung động. Một tình yêu của buổi sớm mai, rồi rơi vào một đoạn kết dang dở để sớm mai ấy vương mang những vệt nắng chiều, khắc khoải, đau đớn mãi không tìm lại được thứ hạnh phúc mới đây mình còn nắm giữ.

Như thế, Aki mãi mãi là buổi sớm mai duy nhất trong đời của Sakutaro, là giọt sương long lanh trong trái tim - kỷ niệm của cậu. Aki là tuổi mười sáu của cậu, là thế giới ngập tràn tin yêu đã có và đã mất đi, là vết thương khắc sâu theo tháng năm mà cậu không bao giờ thôi đau và thôi muốn đau. Sakutaro mang theo vết thương như mang theo Aki bên mình, trong đớn đau, tuyệt vọng, chờ đợi và trong cả niềm hạnh phúc được chìm vào trong tình yêu vô vọng, thứ hạnh phúc ngọt ngào nhắc nhớ thanh xuân đã trôi đi...

Rồi Aki cũng ra đi với gió, trên những cánh hoa đào mùa xuân khi Sakutaro biết rằng cô mãi mãi vẫn còn đó, như tuổi mười sáu mười bảy của cậu mãi mãi sống trong trái tim và kỷ niệm, trong nỗi nhớ niềm yêu. Và họ vẫn bên nhau hằng ngày, trong những khoảnh khắc đẹp tươi hằng in trong nhớ nhung, hoài niệm. Aki là một phần trái tim của Sakutaro, không bao giờ tách rời được nữa...

Cũng phải mất gần cả đời mới biết được cách cất giữ một con người vào trong trái tim :D

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

The Great Gatsby - Đại gia Gatsby

Cho dù có hơi thất vọng về cái tựa mà Trịnh Lữ đã giành cho The Great Gatsby của Fitzgerald , thì tui cũng phải công nhận đây là một bản dịch tốt, và phù hợp với tinh thần của cuốn sách. Trịnh Lữ có một lối dịch hơi hoa mỹ, áp vào thật hợp với bầu không khí hào nhoáng, thế giới phù hoa mà Frizgerald tạo dựng nên. Một bầu không khí Mỹ, một giấc mơ Mỹ và một kết thúc kiểu Mỹ, Fritzgerald cũng vĩ đại như chính Gatsby vậy.
Như một biểu tượng của giấc mơ Mỹ những năm 20 của thế kỷ trước, Gatsby là đại diện cho một lớp người từ tay trắng làm nên sự nghiệp, đổi đời trong một cái chớp mắt. Gatsby vượt qua lằn ranh giới giữa nghèo hèn và xa hoa lộng lẫy chỉ trong một đêm, để lại sau lưng một khoảng mênh mông đen ngòm về thân thế và bí mật đời tư cũng như cách thức làm giàu. Người đàn ông giàu có bí ẩn mang một tình yêu vô vọng , nó gần như là hình ảnh của bá tước Monte Cristo , cổ điển một cách gợi cảm kèm theo một tinh thần xa xỉ rất thời đại. Gatsby chính là giấc mơ ngọt ngào mà biết bao nhiêu người của thời ấy ấp ủ.


Nhưng thế giới phù hoa ấy không hề cho không ai một cái gì. Để vươn tới tột đỉnh vinh quang, Gatsby đã gần như hiến sinh cuộc đời mình cho thế giới ấy. Cơn lốc phù phiếm và những buổi tiệc thâu đêm suốt sáng nghiền cuộc đời Gatsby trong bánh xe lộng lẫy của nó, bằng ảo vọng, bằng ngọt ngào, bằng rực rỡ để rồi cuối cùng tan đi trong một tích tắc mỏng nhẹ như tiếng vỡ của bong bóng xà phòng. Cả một bệ đỡ và hệ thống hùng hậu đằng sau giải tán nhanh còn hơn diễn viên của đoàn kịch đêm bế mạc. Chỉ còn lại Gatsby hiện nguyên hình là một nạn nhân không ai đoái thương của một thời đại phù du chất đầy những cái nhìn ruồng rẫy. 

Nhưng chỉ như thế thôi thì Gasby đâu có vĩ đại. Như một con thiêu thân hiến sinh cho ngọn lửa, Gatsby cũng lao đầu vào thế giới phù hoa đó bằng tất cả lòng tin và trái tim mình. Để rồi, dù là một con thiêu thân, thì ở Gatsby vẫn tồn tại một phẩm chất anh hùng không bao giờ bỏ cuộc, dám chiến đấu tới giây phút cuối cùng cho một ảo mộng, cho một tình yêu vốn đã tắt lịm đâu đó buổi ban sơ. Gatsby dù dâng hiến đời mình cho thế giới phù phiếm , nhưng vẫn không giống những kẻ trong thế giới ấy. Gatsby vẫn giữ được cho mình tâm hồn ngây thơ và lòng tin mãnh liệt vào tình yêu. Đó là điều khiến Gatsby trở nên vĩ đại, cái vĩ đại điên cuồng, đáng thương, đáng ngưỡng mộ.

Thật ra thế giới phù hoa ấy không có gì đáng chê trách hay phê phán. Nó ở đó có lý do mà lịch sử đã chỉ ra. Ngọn lửa tuy tàn nhẫn nhưng vẫn có vẻ đẹp của nó, Daisy tuy hời hợt phù phiếm nhưng vẫn mang nét quyến rũ của sự phù phiếm hời hợt. Chỉ có điều Gatsby và những người đã mơ giấc mơ ấy không nhìn ra bản chất của thứ họ đang lao vào, không nhận ra sau vẻ đẹp lộng lẫy là tất cả những bất trắc , tráo trở của cuộc đời. Cái chết của con thiêu thân, xét cho cùng là lỗi của nó hay ngọn lửa? Chúng ta không biết được đâu

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

Cuộc sống ở trước mặt

Cuộc sống, nó không phải là thứ dành cho tất cả mọi người. Momo đã rút ra kết luận như thế. Nhưng cuộc sống vẫn dành cho cậu, vẫn dí trước mặt cậu cái bản mặt thê thảm của nó, mà dù muốn, dù không cậu cũng phải đối diện, phải nếm trải bằng tất cả các giác quan. Vì Momo vẫn phải sống.

Những khi tôi cảm thấy đời mình ngập tràn bế tắc, tôi hay nghĩ về Momo, cậu bé Ả Rập lớn lên trong vòng tay một người đàn bà Do Thái đã giải nghệ làm gái đứng đường, về những gì mà cuộc sống dành cho cậu, để thấy rằng, mình thật là may mắn vì không có những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, những thứ đủ sức biến cuộc đời họ thành vũng lầy nhớp nháp mắc míu và đớn đau, như nỗi ám ảnh không bao giờ rũ bỏ nổi.

Trong vũng lầy của cuộc sống, một tình yêu bám rễ như một lý do níu kéo sự tha thiết với cuộc đời. Tình yêu kỳ lạ không thể gọi tên, không giống như tình ruột rà máu mủ, không thuần túy là mối tình giữa đàn ông và đàn bà, dù ở đây ta cũng có một người đàn ông - Momo, mười tuổi (thật ra là đã mười bốn) và một người đàn bà - Madame Rosa, gần bảy mươi. Thứ tình yêu rung động như cổ tích, có thể biến một bà già bủng beo nặng gần một tạ trở thành người phụ nữ đẹp dịu dàng trong trái tim Momo. Người đàn bà Do Thái mang nhiều vết thương và sự ám ảnh, nhiều phong ba vùi dập của cuộc đời. Madame Rosa đã cưu mang một đứa bé mồ côi như Momo, vì miếng cơm manh áo, nhưng rồi đã giữ cậu lại bên mình như một đốm lửa nhỏ sưởi ấm trái tim đơn độc giữa biển đời thê lương của mình. Người đàn bà đã ôm ấp cậu, vỗ về an ủi và chùi đít cho Momo trong những ngày tháng bơ vơ từ thuở còn thơ cho đến ngày cậu lớn. Tình yêu giữa họ lớn hơn cả tình mẫu tử thông thường, nó đến từ hai trái tìm thèm khát tình yêu tới thắt lòng thắt ruột và đơn côi tới rạn nứt cả trái tim. Cuộc sống không cho Momo tình thương và lòng tin, chỉ cho cậu duy nhất một người đàn bà nặng gần một tạ để neo cậu lại với cuộc sống, người đàn bà mà nguy cơ rời bỏ cậu ra đi càng ngày càng gần kề.


-    Ông Hamil ơi, người ta có thể sống mà không có tình yêu được không?

-    Có.

Momo bật khóc. Cậu biết rằng mình sẽ vẫn phải sống ngay cả khi tình yêu duy nhất của đời mình ra đi. Dù Momo có đổ hàng tấn nước hoa lên người Madame Rosa, nhưng cuối cùng bà vẫn bỏ cậu mà đi bằng cái mùi của tử thi đã hoại. Và bởi thế, cuộc sống này có vị gì đâu. Nó vẫn thản nhiên đi qua bằng gương mặt đanh đanh vô cảm của nó, cùng những đớn đau đã chai sạn trong tâm hồn già cỗi của một đứa bé lên mười- à không, mười bốn chứ. Cuộc sống, dù nó có cứa biết bao nhiêu vết lên Momo, nó vẫn luôn ở trước mặt cậu, nó chẳng thể ở đâu đó khác, nó còn biết ở đâu nữa bây giờ?

Romain Gary luôn khiến tôi cười, mặc dù biết là bi kịch lắm rồi đấy. Ông khiến tôi lạc quan với chút dí dỏm của mình, dù cười đấy mà ruột thắt biết bao nhiêu bận. Nhưng cái cách ông kiên trì cười vào nỗi thống khổ nó khẳng định rằng rồi ông sẽ thắng, kiểu gì rồi ông cũng sẽ thắng. Không biết đây có phải là một liệu pháp tinh thần không, nhưng biết đâu khi ta cười, thì thế gian sẽ cười đáp lại. Biết đâu cuộc sống đen thủi đen thui của Momo sẽ sang sủa lên, dẫu là tôi cũng chẳng biết đào bới niềm hy vọng ấy ở đâu cho đến dòng chữ cuối. Nhưng ôi dào, rồi thì đời sẽ qua. Thật ra thì những gì mà Momo và Madame Rosa của cậu có, nó chẳng thể nào tệ hơn được nữa.


Bạn có khóc khi đọc cuốn này không? Tôi không khóc. Nhưng đau đớn. Không phải ai cũng khiến người ta đau đớn thế khi mặt mũi tỉnh queo. Bởi thế tôi tin là Gary là một trong những cây bút thiên tài. Tiếc là ông chẳng còn trên đời nữa.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Istanbul - Hồi ức và thành phố

                                     
Rất nhiều người yêu thành phố nơi mình sống, nhưng không có nhiều người hiểu về nó, và càng ít người muốn tìm hiểu về nó. Tình yêu ấy với họ đơn giản chỉ là sự tận hưởng chung chung về màu sắc, hương vị đặc trưng của cuộc sống ở đấy, có kỷ niệm, có nhớ nhung nhưng tựu chung rồi nó sẽ cuốn theo năm tháng phai tàn. Khi tôi đọc cuốn sách này, tôi quá ngạc nhiên về tình cảm của Orhan Pamuk dành cho thành phố Istanbul nơi ông sống, tình yêu nào khiến người ta lặn lội ngược dòng quá khứ chỉ để đào bới những vết thương, rồi suốt đời ôm ấp vào lòng như một phần sinh mệnh?

Istanbul, thành phố nằm bên bờ vịnh Bosphorus, một thời là thủ phủ của đế chế Ottoman hùng mạnh với những vết tích hoang phế rải dọc bờ. Những con phà tỏa khói xám bàng bạc trong nỗi buồn bao phủ lên tâm tưởng và số phận người Thổ. Giữa những dấu vết nhắc nhớ về một quá khứ vàng son, giữa nỗi mặc cảm chênh vênh neo mình giữa hai bờ Đông - Tây của hiện tại, người Thổ tự phủ lên cuộc đời mình một tấm màn mỏng mềm mại âm u để che mờ sự hiển hiện, gọi là huzun. Huzun trong tiếng Thổ gọi là nỗi u sầu, sự u sầu len lén vào tim để đau đớn trong sự mềm mại của nó. Không có gì diễn tả được tâm trạng người Thổ hơn từ ấy, nỗi sầu khổ khi bị xa lìa, sự mất mát, sự hoang mang... Và tất cả, phủ lên Istanbul vốn đã bàng bạc màu khói xám một tấm sương mờ, như một viễn tượng hội họa.

Chính vì thế mà Instanbul đẹp, đẹp bằng những nỗi buồn ghi dấu trên những ngọn tháp cao, những ngọn cây đổ bóng dài trong ánh chập choạng hoàng hôn sáng- tối. Đẹp bằng những âm u chiều xuống trong những con hẻm nghèo dài chênh vênh. Orhan Pamuk thoạt tiên muốn hiểu Istanbul bằng hội họa và hình ảnh vì ông muốn trở thành họa sĩ. Ông phân tích những bức tranh vẽ từ thời đế chế, nghiên cứu những bức ảnh đen trắng với đôi mắt của một người phương Tây, chăm chú, tỉ mỉ và cuối cùng, như một bác sĩ, ông tìm ra vết thương của thành phố. Vết thương sâu hoắm u ám tận cõi lòng mà không ai nhận ra vì nó đã là một phần trong cuộc đời người Thổ. Và thế rồi Orhan, ông trở thành một nhà văn.

Với tôi, làm nhà văn nghĩa là thừa nhận những vết thương bí mật mà chúng ta mang trong nội thể mình, những vết thương bí mật đến nỗi chính ta chẳng mấy khi biết, và nhẫn nại tìm hiểu chúng, khám phá chúng, soi rọi chúng, để làm chủ những nỗi đau và vết thương đó, biến chúng thành một phần hữu thức của tinh thần ta, tác phẩm của ta.


Có những chương trong cuốn sách này được miêu tả rất đẹp, đẹp tới đau lòng. Đẹp trong từng câu chữ đơn giản, trong từng bức ảnh đen trắng minh họa. Và Istanbul hiện lên với những tòa tháp cao bơ vơ trên nền trời hiu quạnh, những cánh hải âu bay xao xác bờ vịnh, tiếng còi tàu dài rền vang quay quắt điệu u buồn. Những làn khói bay trên nóc những chuyến phà, những bóng người lầm lũi kéo hoàng hôn về phủ lên thành phố. Và huzun tuy bàng bạc như sương nhưng đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài trong những trang sách, với những đêm mất ngủ nằm chờ những chuyến tàu qua vịnh như những thói quen, những đốm lửa xa xa hay những trận pháo lửa sáng trời khi những chuyến tàu chở dầu đâm vào nhau ngoài khơi. Bosphorus không chỉ chứa những chuyến phà, nó còn chất chứa những đôi mắt đăm đăm trong đêm nhìn ra bờ vịnh - cửa ngõ Đông-Tây của thành phố. Những đôi mắt hoang mang, u sầu và bất lực.

Thông qua đời mình, Orhan Pamuk đi tìm Istanbul, với những câu chuyện, những biên niên sử và cả những hồi ức đã bị lãng quên, những vết thương dấu kín. Cậu bé Orhan Pamuk đã yêu Istanbul và vịnh Bosphorus vì những tháng năm hạnh phúc của cuộc đời được sống và rong chơi, được chìm trong những truyền thuyết về đế chế Ottoman, ly kỳ và diệu vợi. Orhan đã bắt đầu yêu Istanbul bằng cái vẻ đẹp lộng lẫy ngọt ngào của nó, để rồi mãi hoài trên hành trình yêu thương đó, càng ngày càng nhận ra những đau đớn đằng sau, những vết cháy, những trận bão tuyết cuồng phong, những lỗ trống bơ vơ trong trái tim thành phố. Nhưng Orhan không bỏ đi, không chạy trốn nó, như một số trí thức nước Thổ đã tìm được ra khỏi đất nước để đến với phương Tây. Ông ở lại, để cái nỗi buồn của nó, vết thương của nó trở thành một phần của đời mình. Với Orhan, Istanbul thật sự là tình yêu, tình thương và sự lựa chọn của tuổi trưởng thành, hoàn toàn không ảo vọng.


Tại sao người ta có thể yêu thành phố nơi mình sống đến thế?

Câu hỏi này cứ lớn dần lên theo từng, từng trang sách để đến cuối cùng, khi gấp sách lại, tôi thấy mình ngập chìm trong hỗn mang cảm giác mà tác giả đem đến : yêu thương, bất lực, tuyệt vọng, bơ vơ... Istanbul như người mẹ đã qua thời son trẻ, chỉ còn lại những tồi tàn mà tháng năm chồng chất với những hoang phế u buồn và nỗi ám ảnh vàng son. Và Orhan Pamuk đã yêu thành phố ông sống trọn đời mình, như đứa con yêu mẹ bằng trường kỳ tình yêu từ ngày mới chớm đến tuổi bạc đầu. Ông đã yêu người mẹ ông chưa từng rời xa trong đời bằng tình yêu rưng rưng trìu mến lẫn đắng cay nhưng trên hết là thấu hiểu, như hiểu nguyên nhân từng vết nhăn nheo trên trán mẹ mình. Một tình yêu đáng để vinh danh và ngưỡng mộ. Một cuốn sách xứng đáng là kiệt tác.

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

Ruồi trâu

Tôi xếp Ruồi Trâu vào dạng tiểu thuyết tình cảm lãng mạn, cho dù người ta có nhắc tới nó như một cuốn sách về lý tưởng cách mạng, về tinh thần chiến đấu hay một số thứ tương tự. Người ta chỉ thấy cái mà mình muốn thấy, có lẽ thế.

Nói về tình yêu trong cuốn sách này, tôi thấy thú vị vì nó không đi vào tình yêu đôi lứa thuần túy. Tình yêu đôi lứa bị lép về bởi một thứ tình cảm còn mãnh liệt và thời sự (2012) hơn thế : đó là sự ngưỡng mộ tới sùng bái tới cực đoan. Điều này, không chỉ riêng cha Montanelli mới có.

Athur cũng vậy, tình yêu của anh dành cho cha Montanelli chẳng khác gì tình yêu của Montanelli dành cho Chúa. Trong mắt Athur, ông hoàn toàn là một vị cha xứ trong sạch, liêm khiết với trái tim độ lượng và sự uyên bác sáng ngời. Tình yêu đó, không nhuốm chút nghi ngờ, chút trần tục, chút bụi bặm, nên tình yêu đó không kìm nổi mình mà bước qua giới hạn của tình yêu để biến thành nỗi oán hờn, căm phẫn chỉ vì một vết nhơ trên mình của tượng đài mà mình trót xây dựng. Athur trở thành Rivares sau nhiều năm lưu lạc, với vô số vết thương trên da và trong trái tim để trở thành một nhân vật sắc sảo độc địa, biết nói những lời cứa thẳng vào tim người khác để rồi sau đó tim mình cũng te tua chẳng kém gì. Rivares, mãi mãi vẫn là Athur, cũng như nỗi hờn căm của Rivares, vẫn cứ là một tình yêu mãnh liệt.

Montanelli và Athur, họ giống nhau, vì họ là cha con ruột. Họ giống nhau nên đến phút cuối cùng họ không từ bỏ nổi bức tượng thánh của mình. Họ yêu thương nhau mà không nhận ra mình giống nhau để tha thứ cho nhau và tha cho cả trái tim tan nát của mình. Đến phút cuối cùng, cả hai vẫn để cho lý trí mình giành phần thắng, cho phép nó dẫm lên trái tim mình một cách hiên ngang. Để sống với lý tưởng, người ta phải tàn nhẫn với bản thân mình.

Rivares là một chiến sĩ cách mạng. Ừ thì cứ cho là thế. Một chiến sĩ cách mạng sống với lý tưởng hoài bão mạnh mẽ đến mức không cho phép trái tim vô ý đặt lên đầu. Thôi thì trái tim cứ đặt nguyên chỗ của nó,  trong một tâm hồn đầy thương tổn của một con người yếu đuối tên Athur.

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

Hội hè miên man

Cuốn sách này không có cốt truyện. Nó chỉ là nỗi nhớ miên man của Ernest Hemingway về những năm tháng thanh xuân ở Paris. Mà tuổi thanh xuân thường là những ký ức đeo bám trí nhớ người ta dai dẳng nhất, còn Paris thì chưa có ý định cho ai cơ hội để lãng quên về nó nếu đã đến đây.

Tôi chưa từng thích Hemingway. Tôi không thích cách ông viết những câu ngắn theo kiểu đơn giản hết mức có thể, cách ông tường thuật những đoạn đối thoại với những câu gạch đầu dòng rồi không thêm bớt và miễn bình luận về nó. Nói chung thì tôi không thích cảm giác bị rơi vào trong một cuốn phim tài liệu, hay một cái gì đó đại loại thế. Nhưng Hội Hè Miên Man là một cuốn phim tài liệu nồng nàng cảm xúc, cho dù vẫn là Hemingway với văn phong ngắn gọn không đoái hoài gì đến biểu cảm. Nhưng cần gì, nó đang kể về những năm tháng ở một nơi mà chữ nghĩa nhiều chỉ tổ đánh lạc hướng cảm xúc của người đọc. Và lần đầu tiên tôi thấy thích vô cùng sự ngắn gọn đầy khí chất ấy.

Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong tuổi thanh xuân thì dù có đi đâu trong suốt đường đời còn lại, Paris vẫn ở trong bạn, bởi Paris là một cuộc hội hè miên man.

Paris là một cuộc hội hè miên man, và thanh xuân của chúng ta cũng là một cuộc hội hè còn miên man hơn thế. Tuổi hai mươi của Hemingway tràn trề cảm hứng và nhu cầu được viết, còn Paris thì luôn có đủ chỗ cho bất cứ ai muốn sáng tạo, dù kẻ đó giàu sang hay nghèo kiết xác, mạnh khỏe tươi mới hay đã tàn tạ theo tháng năm. Paris có đủ bầu không khí rực rỡ lẫn u hoài, có những chốn từng bừng và những góc khuất lặng lẽ. Paris cho ta cảm giác về nỗi tràn trề lẫn niềm mất mát cũng như đủ sức nâng sự thiếu thốn lên tầm thơ mộng rồi hạ bệ sự đủ đầy xuống vực của chán ngán. Paris luôn là Paris, chỉ có người ta dường như là khác hơn khi đến đó.

Paris, nơi tề tựu của hầu hết những gương mặt nghệ sĩ sáng giá của nền nghệ thuật đương đại, nơi tôn vinh của những sự sáng tạo đầy ngông cuồng. Paris cho Hemingway cơ hội nhìn thấy cái đẹp của sự ngông cuồng ấy và cả cái giá phải trả cho nó. Tôi thích cách Hemingway kể chuyện mà không chút phán xét hay đánh giá gì. Có một chút tò mò của tuổi hai mươi, nhưng rồi ông chấp nhận nó ngay không ngần ngại. Bạn sẽ gặp rất nhiều nghệ sĩ tiên phong của thế kỷ 20 ở Paris, ngạo nghễ, buồn rầu, say mê, đau đớn. Bạn sẽ thấy họ qua đôi mắt của chính mình chứ không phải của Hemingway để rồi gấp cuốn sách lại, bạn sẽ thấy Hemingway, đầy hào sảng và tự tin đón nhận mọi sự khác biệt, một sự phóng khoáng rất điển hình mà có lần ông đã tự nhận xét về mình : "Tôi không phải là người Mỹ, tôi là nước Mỹ".

Hemingway chưa bao giờ bỏ quên chất Mỹ của mình, dù đó là ở Paris cũng như Paris không hề biến thành một nơi chốn khác qua cái nhìn của một người Mỹ.  Hemingway đã trải qua tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết ở đó, với tình yêu đằm thắm dành cho người vợ Hadley và ông con trai mũm mĩm Mr Bubby, đã sống những ngày đầy phấn khích với trò đua ngựa, đã ngắm nhìn những kiệt tác nghệ thuật với cái dạ dày trống rỗng, đã viết với tất cả lòng say mê. Hemingway đã thấy Paris, thấy tận tâm khảm nó, đã thấy ánh sáng rực rỡ của nó cũng như bóng tối phía sau ánh hào quang. Paris không thôi khiến người ta đam mê cũng như tuổi thanh xuân mãi mãi không thôi khiến người ta tiếc nhớ. Đó là một thời thật nghèo, mà hạnh phúc.